Cuộc luận chiến với chủ đề: “Liệu Mỹ và Châu Âu có rơi vào một “thập kỷ mất mát” sau suy thoái kinh tế như Nhật Bản” đang nóng trên các mặt báo ở Hoa Kỳ. VNR500 xin trân trọng giới thiệu ý kiến của học giả Kenneth Rogoff, giáo sư kinh tế và chính sách công tại đại học Harvard, và cựu chuyên gia kinh tế tại IMF.
“Mỹ và châu Âu có tránh được một thập kỷ mất mát hay không còn phụ thuộc vào khả năng nhìn nhận vai trò của năng suất trong nền kinh tế của họ, chứ không phải chỉ đơn giản phụ thuộc vào các biện pháp kích cầu ngắn hạn.” GS Kenneth Rogoff bình luận.
Khi Mỹ và các nền kinh tế châu Âu còn đang vật lộn trong khó khăn thì nhiều người cũng bắt đầu quan ngại rằng phương Tây sẽ rơi vào một “thập kỷ mất mát” như những gì từng diễn ra ở Nhật Bản. Thật đáng tiếc, các cuộc thảo luận lại tập trung quá mức vào những gì chính phủ có thể làm để kích cầu thông qua thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ. Đây là những vấn đề chủ chốt trong ngắn hạn, nhưng, như mọi nhà kinh tế học đều nắm rõ, tăng trưởng kinh tế dài hạn chủ yếu vẫn do sự cải thiện về mặt năng suất quyết định.
GS Kenneth Rogoff: "Phải bảo đảm được sự năng động trong các nền kinh tế Mỹ và châu Âu (Ảnh:bantinvang.vn)
Không có gì phải nghi ngờ khi cho rằng cuộc đại khủng hoảng tài chính của Nhật Bản là một đòn búa bổ. Từ thời điểm đó, nước này vẫn chưa bao giờ gượng dậy được. Những điểm tương đồng với Mỹ và châu Âu hôm nay không khỏi khiến người ta lo lắng. Cả hai đều có vẻ sẽ phải chịu một giai đoạn tăng trưởng tín dụng chậm, đều vì những biện pháp điều tiết tài chính chặt chẽ cần thiết và nền kinh tế của họ vẫn đang ở giai đoạn có các công cụ tài chính bị thổi phồng quá mức theo nguyên tắc đòn bẩy. Không có cách đi tắt đơn giản nào trong quá trình hàn gắn “vết thương” này.
Tuy nhiên, khi đánh giá kinh nghiệm của Nhật và mối liên hệ hiện nay, cần phải xác định rõ, cú rơi tự do của Nhật không phải chỉ vì khủng hoảng tài chính. Nhật Bản còn gặp hàng loạt cú sốc năng suất nghiêm trọng, điều này có liên quan mật thiết tới những vấn đề dài hạn. Ngay cả khi Nhật Bản không phải chịu bong bóng bất động sản và bóng bóng thị trường chứng khoán, sự nổi lên như cồn của người khổng lồ láng giềng Trung Quốc cũng sẽ là một thách thức lớn.
Đầu những năm 1990, sự thống trị của Nhật Bản trên thị trường xuất khẩu toàn thế giới bị sứt mẻ phần nào bởi sự vươn lên của các nước châu Á láng giềng nhỏ hơn, trong đó có Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, và Singapore. Nhưng Trung Quốc lại đại diện cho một thách thức hoàn toàn khác, để thích nghi sẽ phải mất nhiều thời gian hơn.
Hơn thế nữa, ngay cả khi không bao giờ có khủng hoảng tài chính thì Nhật cũng sẽ gặp khó khăn bởi các vấn đề nhân khẩu học, khi dân số nước này vừa già hóa lại vừa suy giảm. Chưa hết, những năm siêu tăng trưởng của Nhật được xây dựng dựa trên tỷ lệ đầu tư bất thường. Nhưng, vì năng suất hoàn toàn phải được xây dựng dựa trên đổi mới, chứ không phải vào việc xây dựng vô độ các tòa nhà và thiết bị, nên Nhật không tránh khỏi hệ số thu nhập trên đầu tư suy giảm ở một thời điểm nào đó.
Về nguyên tắc, với hệ thống tài chính lành mạnh hơn, nền kinh tế Nhật Bản có thể đã linh hoạt hơn nhiều trong việc giải quyết những thách thức đối với tăng trưởng năng suất. Nhưng bằng cách này hay cách khác, tốc độ tăng trường một thời cao vút của Nhật Bản cũng sẽ bị hạ nhiệt mau chóng. Như đã từng xảy ra, khủng hoảng tài chính thường làm khuếch đại các yếu tố gây suy thoái kinh tế, hơn là trực tiếp châm ngòi cho chúng.
Nền kinh tế Mỹ có rơi vào "thập kỷ mất mát" kiểu Nhật hay không phụ thuộc vào năng suất. (Ảnh: Goldcoinblogger.com)
Cuộc đại suy thoái ở Mỹ những năm 1930 là trường hợp điển hình. Một lần nữa, quá nhiều sự quan tâm được đặt vào chính sách tài khóa và tiền tệ. Nhưng những chính sách kinh tế mới (New Deal), bằng cách mở rộng vai trò của nhà nước theo cách thường là hỗn loạn và không thể đoán trước được, có lẽ cũng đóng một vai trò nào đó, ít nhất là tạm thời, cản trở tăng trưởng năng suất.
Mỹ ngày nay dường như đang hướng tới một nhà nước thuần túy hơn và mang phong cách châu Âu hơn, với thuế cao và có thể là nhiều quy định hơn. Những người ủng hộ chính quyền Mỹ có thể tranh luận một cách công bằng rằng chính phủ sẽ nỗ lực giải quyết những vấn đề đã bị trì hoãn từ lâu như mất cân bằng thu nhập. Nhưng nếu Mỹ phải trải qua giai đoạn tăng trưởng thấp trong thập niên tới thì liệu có thể đổ lỗi cho tất cả những kết cục đó là do khủng hoảng tài chính?
Tương tự, cuộc khủng hoảng tài chính hiện hữu gần đây nhất của châu Âu một lần nữa lại tạo ra vô vàn những thay đổi chính sách và đều khó đoán trước được. Tại châu Âu, nếu tăng trưởng gặp bất lợi trong thập kỷ tiếp đây, thì cũng không thể đổ lỗi tất cả cho khủng hoảng tài chính.
Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ ở Mỹ và châu Âu cần phải nhằm chống lại giảm phát kiểu Nhật, điều chỉ làm trầm trọng thêm các vấn đề nợ bằng cách hạ thập thu nhập so với nợ. Thực tế, như tôi đã chỉ ra khi mới khủng hoảng, sẽ tốt hơn nhiều nếu mất hai hay ba năm lạm phát tăng mạnh, giảm dần nợ ở tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là nếu hệ thống chính trị, pháp luật, và điều tiết vẫn còn phần nào tê liệt trong việc đạt được những bút toán giảm cần thiết.
Khi thị trường tín dụng suy yếu, việc tiếp tục nới lỏng định lượng có thể sẽ vẫn cần thiết. Với chính sách tài khóa, cần thắt chặt từ từ trong vài năm, nếu không mức độ nợ vốn đã phiền toái của chính phủ có thể sẽ còn trở nên xấu đi nhanh hơn.
Còn nữa, điều quan trọng là phải bảo đảm được sự năng động trong các nền kinh tế Mỹ và châu Âu thông qua các biện pháp tăng năng suất – ví dụ như bằng cách cẩn trọng với chính sách chống độc quyền, hợp lý hóa và đơn giản hóa hệ thống thuế.
Dù thế nào, xu hướng năng suất cũng rất khó ngoại suy, phụ thuộc vào những tương tác phức tạp giữa các lực lượng xã hội, kinh tế và chính trị. Hai nhà kinh tế đạt giải thưởng Nobel, Robert Solow và Paul Krugman, từng đặt vấn đề, liệu sự phổ biến máy tính và công nghệ có dẫn tới tăng trưởng thực sự? (Chủ đề này được nêu bật trong cuốn sách năm 1990 của Krugman tựa đề “The Age of Diminished Expectations” (Kỷ nguyên của những kỳ vọng đã tan biến).
Cuối cùng, các nhà hoạch định chính sách phải nhớ rằng việc Mỹ và châu Âu có tránh được một thập kỷ mất mát hay không còn phụ thuộc vào khả năng nhìn nhận vai trò của năng suất trong nền kinh tế của họ, chứ không phải chỉ đơn giản phụ thuộc vào các biện pháp kích cầu ngắn hạn.
Đình Ngân dịch theoProject-Syndicate // VRN500-VietnamNet
Bảng xếp hạng an ninh lương thực toàn cầu 2010 của LHQ công bố hôm qua (19/8) nổi lên những mảng “sáng – tối”, trong đó, hạn hán, lụt lội là nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng với nguồn cung lương thực ở nhiều quốc gia.
Kế hoạch tăng cường xuất khẩu của Đức làm dấy lên lo ngại sẽ làm kinh tế các quốc gia khác bị trì trệ. Việc phụ thuộc xuất khẩu sẽ đặt Đức vào thế rủi ro, một khi thế giới tăng trưởng chậm lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ rơi vào một cuộc chiến thương mại mới do thâm hụt thương mại gia tăng của Mỹ - nền kinh tế số 1thế giới - có thể khiến Washington phải lựa chọn giải pháp duy nhất là chính sách bảo hộ.
Giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York giảm mạnh cùng những dữ liệu đáng báo động về kinh tế của Mỹ là những dấu hiệu cảnh báo tốc độ tăng trưởng sau suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới đang chậm lại. Sau Mỹ, đến lượt các cổ phiếu tại châu Á và châu Âu cũng đồng loạt rớt giá.
Grignard Abalos, chuyên gia thuộc Cơ quan khí tượng thủy văn quốc gia Peru cho rằng, hiện tượng Nam Bán Cầu nhiệt độ thấp và Bắc Bán Cầu nhiệt độ cao không có mối quan hệ tất nhiên, tuy nhiên, sự tương phản này nhiều khả năng là do hậu quả của hiện tượng khí hậu toàn cầu ấm lên.
Trong báo cáo công bố ngày 12/8, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết tỷ lệ thất nghiệp của giới trẻ trên toàn thế giới đã đạt tới mức kỷ lục và có thể tiếp tục tăng vào cuối năm nay.
Tờ Guardian của Anh ngày 12-8 đã công bố thông tin liên quan đến bản báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mang tên “Xu hướng toàn cầu về việc làm của thanh niên năm 2010”. Có đến 81 triệu thanh niên (chiếm 13 %) trong số 620 triệu thanh niên ở độ tuổi 15-24 phải chịu cảnh thất nghiệp
Sau khi chiếm vị trí nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới của Nhật Bản, dư luận bắt đầu quan tâm tới vai trò và trách nhiệm của Bắc Kinh trên cương vị Á quân kinh tế. Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Các nhà phân tích cho rằng, nền kinh tế Trung Quốc quá phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư, địa ốc, tín dụng tăng trưởng quá nóng… Ngoài ra, Trung Quốc còn phải đương đầu với những áp lực của Mỹ và châu Âu về việc định giá đồng nội tệ.
Việt Nam có chỉ số niềm tin tiêu dùng cao thứ hai trên thế giới. Đó là kết quả khảo sát niềm tin tiêu dùng trên toàn cầu quý II/2010 của Tập đoàn Nielsen.
Ngày 13-8, Mỹ cho biết nước này sẽ không phản đối kế hoạch vận hành Bushehr, nhà máy hạt nhân đầu tiên của Iran vào ngày 21-8 tới. Một nữ quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay: “Chúng tôi ghi nhận lò phản ứng Bushehr được dùng để cung cấp năng lượng hạt nhân dân sự và không coi đây là một mối đe dọa phổ biến hạt nhân”.
Tân Hoa xã tại Paris đưa tin, trả lời phỏng vấn cho “La Tribune”, một tờ báo kinh tế hàng đầu của Pháp, Chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Essilor, một doanh nghiệp quang học nổi tiếng thế giới – ông Xavier Fontanet cách đây vài ngày cho rằng, trung tâm kinh tế thế giới đã chuyển dịch sang khu vực Đông Á.
Các hãng thông tấn, báo chí thế giới trong những ngày gần đây đang rầm rộ đưa tin về loại “siêu vi khuẩn” có khả năng kháng lại hầu hết các loại kháng sinh với tốc độ lây lan siêu nhanh. Sau một số quốc gia ở Nam Á và Anh, Australia đã trở thành điểm dừng chân mới nhất của vi khuẩn chứa gen NDM-1.
Cách đây 2 năm, giá lương thực tăng mạnh đã gây ra nhiều vụ bạo động tại một số nước đang phát triển. Năm nay, giá lương thực đang tăng trở lại. Đặc biệt giá lúa mì thế giới đã tăng đột ngột sau khi tình hình hạn hán kéo dài ở Nga, Trung Âu và lũ lụt ở Pakistan.
Đối với các nhà kinh tế, việc Trung Quốc vượt qua Nhật Bản về tổng khối lượng kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu dường như chẳng hề có ý nghĩa gì.
Do kinh tế tăng trưởng bùng nổ, nước đang ra đi khỏi Trung Quốc: các ao hồ đang bốc hơi, các sông băng tan chảy, các dòng sông khô cạn. Hơn 50 thành phố Trung Quốc đã ghi nhận sự sụt lún liên tục, 75% rừng bị phá hủy...
Báo chí quốc tế gần đây xôn xao chuyện người đồng sáng lập mạng xã hội Facebook, anh Eduardo Saverin, xin từ bỏ quốc tịch Mỹ và cư trú dài hạn ở Singapore nhằm tránh thuế suất thuế thu nhập cao ngất ngưởng ở Mỹ.
Hôm 20/5, lãnh đạo 8 nền kinh tế phát triển gồm Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Nga và Mỹ (G8) đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh thường niên của nhóm tại Trại David (Maryland, Mỹ).
Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng đến các công cụ kích thích kinh tế để chặn đà suy giảm tăng trưởng. Nhưng theo giới quan sát, Bắc Kinh giờ không còn nhiều lựa chọn như trước.
Ngày 29-4 vừa qua, Thủ tướng Đức Angela Merkel lên tiếng bà sẽ gửi đoàn bác sĩ đến Ukraina để thảo luận với Tổng thống Viktor Yanukovich về việc đưa cựu Thủ tướng Tymoshenko đến Đức để chữa bệnh theo yêu cầu của bà Tymoshenko.
Trong những ngày gần đây, tình hình tại biển Đông lại có xu hướng nóng lên với những tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Đây là điều dễ hiểu vì lợi ích tại biển Đông đối với Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền ở khu vực này là rất lớn.
Một kế hoạch của chính phủ trung ương Trung Quốc nhằm tạo ra sự đột phá lớn trong công nghiệp du lịch trên hòn đảo nhiệt đới Hải Nam dự báo sự tăng trưởng vượt bậc trong kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng làm rộng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo mà Bắc Kinh đang cố gắng thu hẹp.
So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.
Chuyện Tổng thống Nga Vladimir Putin không tới tham dự hội nghị thượng đỉnh 8 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G8), thay vào đó là Thủ tướng Dmitry Medvedev, đang tạo ra nhiều câu hỏi về lý do thực sự của nó.