Các nhà hoạch định chính sách Đông Nam Á đang nhìn về phía bắc tới lục địa châu Á và về phía đông xuyên Thái Bình Dương để thấy hai "tài sản lớn", khác biệt và bổ sung cho khu vực của họ: Đó là nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc và sức mạnh quân sự vô dịch của Mỹ.
Điều này không có nghĩa là đánh giá thấp tầm quan trọng về mặt kinh tế của Mỹ với Đông Nam Á. Với tất cả sự cường điệu về việc Trung Quốc trỗi dậy còn Mỹ thì sụt giảm, biện pháp đánh giá có thể là dựa vào giá trị thương mại và dòng chảy đầu tư thì sự tương tác kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc và Mỹ năm 2009 là mạnh mẽ như nhau.
Trung Quốc và Mỹ mỗi bên đều nhập khẩu 10,1% tổng giá trị xuất khẩu của ASEAN. Với dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các nền kinh tế ASEAN, tổng cộng trong năm 2009, Trung Quốc và Mỹ chiếm tỉ lệ gần như ngang bằng - 10,4% và 10,8% tương ứng.
Tuy nhiên, trở lại năm 2003, Mỹ gấp ba lần Trung Quốc trong nhập khẩu hàng hoá ASEAN - 19% so với 6%. Song nhìn từ toàn bộ Đông Nam Á, lợi thế vượt trội của Mỹ với Trung Quốc kể từ đó cũng đã biến mất. Từ 2003 - 2008, thị phần của Trung Quốc với toàn bộ thương mại Đông Nam Á ở mức ngạc nhiên 26% hàng năm - con số mà thị trường Mỹ có thể không theo kịp.
Đông Nam Á không có nghĩa là từ bỏ thị trường Mỹ, đầu tư Mỹ hay thậm chí là tài chính Mỹ. Rất nhiều nhà phânt ích chính sách ở Đông Nam Á mong muốn sự tham gia kinh tế của Mỹ. Tuy nhiên, ở đây có sự tồn tại tư duy rằng, Bắc Kinh và Washington đóng những vai trò riêng biệt: Trung Quốc - đối tác kinh tế tạo điều kiện cho thịnh vượng, còn Mỹ là nhà cung cấp an ninh, bảo vệ hoà bình.
Sự phân đôi như vậy là dễ hiểu. Nó nắm bắt được lợi thế so sánh cho Đông Nam Á mà mỗi bên phía ngoài có thể đem lại: sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc, và thế vô song của quân sự Mỹ. Nó cũng tránh được nguy cơ - mà rất nhiều người Đông Nam Á sẽ nói là điên rồ.....
Dù Trung Quốc tìm kiếm bá quyền ở khu vực là vấn đề mà rất nhiều người không nhất trí, thì ASEAN cũng sẽ không sẵn sàng mời Trung Quốc thế chân Mỹ trong vai trò an ninh ở Đông Nam Á.
Đối với đánh giá Mỹ có thể mang lại nhiều thứ hơn thị trường của mình, Đông Nam Á mong muốn giao dịch nhiều hơn với Mỹ, thu hút thêm nhiều đầu tư từ họ và hưởng lợi nhiều ơn từ công nghệ Mỹ. Nhưng họ e ngại rằng, những khó khăn trong nước cùng với sự tranh cãi chính trị có thể đẩy ra các ưu tiên của Mỹ với châu Á. Những gì quá cường điệu về sự sụt giảm kinh tế của Mỹ đã khiến cho Trung Quốc được chú ý hơn.
Đua tranh
Theo nhiều nhà phân tích, dường như đang diễn ra sự cạnh tranh cộng đồng trong khu vực. Có ASEAN + 3 (APT) không bao gồm Mỹ, so với sự nổi bật về vấn đề an ninh trong chương trình nghị sự của hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) mà cả Trung Quốc và Mỹ đều tham dự. Bắc Kinh thích Đông Á chỉ APT hơn là một EAS lớn hơn, nơi ảnh hưởng của họ bị loãng đi. Trung Quốc xem APT gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc như một Cộng đồng Đông Á mới hình thành trên cơ sở thương mại và đầu tư, một tầm nhìn mà ASEAN chia sẻ.
Nằm ở phần "không thuận", phía đông của Thái Bình Dương, Mỹ có bổn phận thông qua địa lý duy trì một không gian xuyên Thái Bình Dương.
Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã bày tỏ rằng, đại dương - hướng tây - là ưu tiên Mỹ khi ông chru trì cuộc gặp đầu tiên của các nhà lãnh đạo diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương bao gồm cả Trung Quốc ở thành phố biển Seattle năm 1993. Triển vọng Thái Bình Dương thậm chí còn hiển hiện rõ ràng hơn tại Hawaii với cuộc gặp APEC do Tổng thống Mỹ Obama chủ trì. Nhưng APEC đã không sống với lời hưa ban đầu của mình như một nền tảng cho cộng đồng kinh tế xuyên Thái Bình Dương - một Khu vực Tự do Thương mại châu Á Thái Bình Dương (FTAAP).
Có hai câu hỏi đặt ra: Liệu APT tập trung vào kinh tế nên có khao khát về một vai trò an ninh? Ngược lại, EAS với đặc quyền an ninh, có nên cũng phát triển một chương trình nghị sự về kinh tế? Nhấn mạnh tính hợp thời của câu hỏi này là lịch trình liên tiếp từ cuộc gặp của các nhà lãnh đạo APEC tại Honolulu ngày 12-13/11 và EAS ở Nusa Dua, Indonesia ngày 19/11.
Trong điều kiện hiện nay, APT sẽ không mở rộng dấu ấn để bao gồm phương diện an ninh truyền thống. Trung Quốc không bị áp lực cho sự mở rộng như vậy và các quốc gia ASEAN cũng hoài nghi về việc Bắc Kinh có đồng hành. Trung Quốc cuối cùng sẽ đóng một vai trò an ninh khu vực với sức mạnh cứng dù được tán thành hay không. Nhưng hiện nay, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á không muốn gây nguy hiểm với thành công của APT bằng cách đưa thêm vào vấn đề chủ quyền và an ninh trong chương trình nghị sự.
Không hoàn hảo
ASEAN hy vọng rằng, ngày nào đó, Trung Quốc sẽ ký Bộ quy tắc hành xử ở Biển Đông mang tính ràng buộc. Nhưng ngay cả khi điều đó xảy ra, ASEAN sẽ không sẵn sàng đề nghị Bắc Kinh trở thành người bảo trợ duy nhất cho an ninh khu vực ở Đông hay Đông Nam Á. Trong bối cảnh nhạy cảm này, một tâm điểm an ninh cho EAS sẽ được coi là hàng rào chống lại sự quả quyết không được mong đợi của người Trung Quốc.
Tuy nhiên, hàng rào ấy vẫn hoàn toàn chỉ mang tính biểu tượng. EAS đến thời điểm này cũng chỉ như cuộc trao đổi hàng năm.
Nếu APT sẽ không sớm thành một tổ chức toàn diện bằng cách đưa an ninh vào các quan tâm kinh tế, thì EAS thế nào? Họ sẽ mở rộng theo chiều hướng đối lập, đưa kinh tế khu vực vào an ninh khu vực như một mục tiêu chú ý?
Quan chức Trung Quốc đã không chào đón sự hình thành của EAS và dường như giờ đây họ miễn cưỡng đưa vấn đề kinh tế vào chương trình. Bắc Kinh buộc phải "nhường vai" cho dù Mỹ và các bạn bè dân chủ của họ ngoài Đông Á gồm Ấn Độ, Australia hay New Zealand đều tham gia hội nghị thượng đỉnh, và có thể làm hỏng các mục tiêu của Trung Quốc.
Nếu Trung Quốc sẵn sàng là người đứng đầu trong số 13 nền kinh tế APT và trở thành trung tâm kinh tế toàn cầu, thì tại EAS với 18 thành viên, ảnh hưởng kinh tế của họ sẽ được gia tăng. Nhưng ưu tiên hiện nay của Trung Quốc là phát triển APT thành một cộng đồng kinh tế Đông Á để qua đó phản ánh và phô trương các lợi thế so sánh của chính Trung Quốc.
Giống như Bắc Kinh, nhưng với rất nhiều lý do khác nhau, chính quyền Obama không muốn EAS trở thành một diễn đàn kinh tế. APEC đã là một, vậy tại sao lại cần phải nhân bản một chữ "E" - "Kinh tế" - trong cái tên của diễn đàn khác?
Vai nào cho Mỹ, Trung Quốc ở ASEAN?
Cách đây không lâu, khi TPP lần đầu tiên xuất hiện, các nhà làm chính sách lao đến Wikipedia để tìm hiểu xem nó là gì. Quy mô nhỏ bé và sự xa lạ về địa lý đã khiến nó khó có thể được chú ý một cách nghiêm túc. Một thoả thuận năm 2005 giữa Brunei, Chile, New Zealand, và Singapore dường như quá mỏng manh và phân tán.
Tuy nhiên, sau đó, thêm 5 quốc gia khác - Australia, Malaysia, Peru, Mỹ và Việt Nam đã nhất trí tham gia các cuộc hội đàm với quan điểm hướng tới nỗ lực ra nhập nhóm. Canada, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan cũng bày tỏ mối quan tâm về khả năng sẽ ký kết hiệp định.
Một TPP quy mô khổng lồ là khó xảy ra. Chất lượng cao của hiệp định đã góp phần giải thích về số lượng thấp các thành viên tham gia - những nước phải tự cam kết tự do hoá kinh tế toàn diện, bao gồm các quy định về sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường. Rào cản lối vào khá cao này có thể tăng cường ảnh hưởng của hiệp định và nó dường như được các chính khách Mỹ - những người phản đối thương mại "không công bằng" yêu thích.
Tuy nhiên, quy định của nó sẽ gây khó khăn trong việc thực thi ở những nước bảo hộ nông nghiệp, độc quyền công nghệ hay bất mãn với các "chi phí xanh" cho nền kinh tế. Những yêu cầu về sở hữu trí tuệ đặc biệt gây tranh cãi. Nó sẽ không quá nhiều thách thức nếu TPP hài lòng trong vai trò là câu lạc bộ của số ít tham dự. Tuy nhiên, hiệp định đặt ra sứ mệnh rõ ràng (trong khoản 1.1.3) là "ủng hộ tiến trình tự do hoá lớn hơn trong APEC phù hợp với các mục tiêu tự do và mở cửa thương mại cũng như đầu tư". Nhiệm vụ này mở ra cách hiểu cho TPP như một người tiên phong của thương mại tự do trong bối cảnh lớn hơn.
Cản trở ở Darwin?
Tổng thống Mỹ Obama đã tới Darwin, Australia, trong lộ trình tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ 6 diễn ra ở Bali ngày 19/11. Tuy nhiên, Darwin đã không chỉ còn là một điểm dừng chân thuận lợi giữa Australia và Indonesia. Chính quyền Obama và đối tác tại Canberra đã nhất trí rằng, 2.500 lính thuỷ đánh bộ Mỹ cuối cùng sẽ được luân chuyển đến thành phố ven biển phía bắc Australia sáu tháng/lần để thực hiện diễn tập và đào tạo với lực lượng quốc phòng Australia. Tính từ Darwin thì bờ biển của Indonesia chỉ cách đó chưa đầy 800km. Một bài báo đăng trên trang nhất của Jakarta Post ngày 17/11 có tiêu đề: "Căn cứ mới của Mỹ ở sân sau Indonesia".
Mỹ sẽ triển khai lính thuỷ đánh bộ tại Darwin, Australia Ảnh: tripwow
Người Mỹ tình cờ sẽ sẵn sàng ứng cứu mau lẹ nếu có một thảm hoạ tự nhiên xảy ra với Indonesia. Tuy nhiên, trong cuộc họp báo trước chuyến thăm Bali của ông Obama, khi trả lời câu hỏi về việc triển khai tại Darwin thì Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa đã không đề cập tới khía cạnh tích cực từ sự hiện diện của Mỹ. Ông nhấn mạnh đến bản chất song phương tự nhiên của thoả thuận Australia - Mỹ với việc điều lính thuỷ đánh bộ tới Darwin - chứ không nhắc tới Indonesia trong quyết định này. Ông không đề cập tới Trung Quốc. Nhưng rõ ràng là ông đã nghĩ tới Bắc Kinh khi nói rằng, ông "không thích nhìn thấy" việc đồn trú của lính thuỷ đánh bộ sẽ lại bắt đầu cho một "chu kỳ căng thẳng và hiểu lầm" trong khu vực.
Ngược lại, một quan chức Philippines đã gọi động thái quân sự của người Mỹ là hữu ích, và ông không hề có suy nghĩ về chuyện giảm nhẹ thiên tai thảm hoạ trong đầu. Động thái này, ông nói, "hỗ trợ khả năng của chúng tôi để khẳng định chủ quyền với những khu vực nhất định", cũng có nghĩa là sẽ thúc đẩy cánh tay của Manila trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông.
Phản ứng đầu tiên của Bắc Kinh với quyết định Darwin là khá kiềm chế. Nhưng dù sao một người phát ngôn bộ ngoại giao Trung Quốc đã liên hệ vấn đề kinh tế với an ninh khi ông nói rằng "có thể là không thích hợp với Mỹ để tăng cường và mở rộng các liên minh quân sự vào thời điểm khi nền kinh tế của họ mới đang trên đà phục hồi". Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc thì thể hiện phản ứng mạnh mẽ hơn trong một bài xã luận. Báo này nói rằng, Australia nên thận trọng về việc cho phép Mỹ sử dụng căn cứ quân sự để "gây tổn hại Trung Quốc" và có nguy cơ "dễ bắt lửa".
Dĩ nhiên, Mỹ không phải và không muốn bị xem như là cường quốc "nửa mùa" ở châu Á, nghĩa là chỉ hợp với vai trò an ninh.
Trong giai đoạn 2008 - 2009, Thủ tướng Australia khi ấy là Kevin Rudd đã đề xuất khuôn khổ đầy đủ để "trang bị" cho hội nghị thượng đỉnh có thể giải quyết các vấn đề từ nguyên nhân đến kết quả và tác động kể về kinh tế cũng như chính trị. Ý tưởng của ông đã không được hiểu hoặc trình bày rõ ràng thời điểm đó. Nhưng sự thiếu vắng một nơi gặp gỡ như thế dù sao cũng là điều tiếc nuối và khi cuộc khủng hoảng tài chính tiếp tục tác động mạnh mẽ tới an ninh tài chính toàn cầu, thì nhu cầu cấp bách đặt ra là sự hợp tác xuyên quốc gia, xuyên chính phủ để nhanh chóng đạt được phục hồi kinh tế. Và, vai trò của Vành đai Thái Bình Dương đang trỗi dậy trong nỗ lực tìm kiếm cũng như duy trì các giải pháp dài hạn.
Chính quyền xứng đáng có được độ tin cậy để chuyển hưởng sang châu Á và khéo léo đưa mình vào cơ cấu kinh tế, an ninh đa phương mà họ tìm thấy ở đây. Tuy nhiên, sự can dự của Mỹ vào khu vực có thể gặp khó khăn hơn vì những bất đồng chính trị trong nước cũng như yêu cầu giảm thâm hụt tài chính trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu. Giảm can thiệp quân sự tại Iraq và Afghanistan có thể hỗ trợ cho chiến lược chuyển hướng châu Á, nhưng cũng cần tới một nỗ lực đồng thuận hơn để cân bằng vai trò của Mỹ trong các cam kết lớn hơn, hiệu quả hơn với châu Á về phương diện kinh tế. ----------------------------------------------- Tác giả: Nguyễn Huy theo Atimes // Nguồn: Tuần Việt Nam
Tiếp sau dự báo về kinh tế Mỹ, châu Âu trong 2012 và 2013, các chuyên gia phân tích của ngân hàng Morgan Stanley đã đưa ra nhận định về tổng mức thâm hụt ngân sách trong giai đoạn 2011 - 2013 của 21 nền kinh tế hàng đầu thế giới.
2011 quả là một năm nhiều khó khăn. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chập choạng, lúc sáng lúc tối, thì việc các doanh nghiệp đưa ra những quyết định thiếu sáng suốt, những bước đi thiếu tự tin là khó tránh khỏi.
Ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ vừa công bố 9 dự báo về kinh tế toàn cầu trong các năm 2012 và 2013. Đây là những nhận định về triển vọng tăng trưởng kinh tế các khu vực, chứng khoán, hàng hóa, tỷ giá, chính sách của các ngân hàng trung ương…
Những nền kinh tế công nghiệp phát triển hiện đang mất dần ảnh hưởng. Trong khi, các nước BRICS đang phát triển ngày một nhanh chóng và đang đóng góp đáng kể vào kinh tế toàn cầu.
Tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Á mới nổi sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng trong năm 2012 khi các vấn đề nợ công ở châu Âu ngày càng trầm trọng còn nền kinh tế Mỹ èo uột đang gia tăng ám ảnh về một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu sâu hơn, Báo cáo cập nhật về Kinh tế châu Á mới nhất của ADB công bố sáng nay cho biết.
Trả lời câu hỏi Ai cai trị nước Mỹ? có lẽ nhiều người sẽ nói: chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này. Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Sau khi dự luật trần nợ mới của Mỹ được ký duyệt, xen lẫn tiếng thở phào vẫn có nhiều lo lắng, bởi lẽ: nếu nước Mỹ vỡ nợ tác động ngoại cỡ tới kinh tế toàn cầu do vị thế độc nhất của Mỹ trên thế giới, thì một thỏa thuận thay đổi hướng chính sách tài chính của nước này cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến kinh tế giới trong nhiều năm tới.
“Cơn bão” tài chính bắt nguồn từ khu vực châu Âu đang gieo rắc ảnh hưởng tiêu cực lên kinh tế thế giới. Những tín hiệu về một cuộc suy thoái toàn cầu mới đang hiện ra rõ nét.
Thủ tướng Đức Angela Merkel vừa đưa ra nhận định rằng những khó khăn tài chính trong khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) có thể là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của châu Âu kể từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Trong báo cáo “Tình hình năng lượng thế giới năm 2011” vừa công bố, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) nhận định, trong vài thập kỷ tới, Nga sẽ là "nền tảng của hệ thống năng lượng toàn cầu."
Con đường kinh tế của quốc gia nào, Trung Quốc hay Ấn Độ, chủ nghĩa tư bản nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân - sẽ bền vững? Xã hội nào sẽ tồn tại tốt hơn? Quốc gia nào có ý thức mạnh mẽ hơn về số phận của mình? Cả thế giới đều muốn biết câu trả lời.
Thị trường thế toàn cầu đang rất hoang mang. Tất cả mọi người đều biết rằng giờ đây ba trụ cột của kinh tế thế giới không còn giữ vững được vị thế của mình. Châu Âu, Trung Quốc, Mỹ, nền kinh tế nào tồi tệ nhất?
Khi Đông Á đang nỗ lực đối phó những thách thức an ninh biển đang gia tăng ở khu vực Tây Thái Bình Dương – bao gồm thay đổi cán cân quyền lực, căng thẳng tranh chấp trên biển và bất đồng cơ bản về cách giải thích Luật Biển – có ba câu chuyện mới sẽ góp phần xác định lại cấu trúc địa chính trị khu vực.
Nhà nước thì luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo phương thức, đó là, cho dù chính quyền có mạnh đến đâu chăng nữa thì nó vẫn phải được kiềm tỏa bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.
Sự chuyển đổi quyền lực kinh tế từ phương Tây sang phương Đông đang được thực hiện với tốc độ nhanh và thế giới các quốc gia giàu có sẽ sớm mất ưu thế của mình.
Do kinh tế tăng trưởng bùng nổ, nước đang ra đi khỏi Trung Quốc: các ao hồ đang bốc hơi, các sông băng tan chảy, các dòng sông khô cạn. Hơn 50 thành phố Trung Quốc đã ghi nhận sự sụt lún liên tục, 75% rừng bị phá hủy...
Báo chí quốc tế gần đây xôn xao chuyện người đồng sáng lập mạng xã hội Facebook, anh Eduardo Saverin, xin từ bỏ quốc tịch Mỹ và cư trú dài hạn ở Singapore nhằm tránh thuế suất thuế thu nhập cao ngất ngưởng ở Mỹ.
Hôm 20/5, lãnh đạo 8 nền kinh tế phát triển gồm Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Nga và Mỹ (G8) đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh thường niên của nhóm tại Trại David (Maryland, Mỹ).
Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng đến các công cụ kích thích kinh tế để chặn đà suy giảm tăng trưởng. Nhưng theo giới quan sát, Bắc Kinh giờ không còn nhiều lựa chọn như trước.
Ngày 29-4 vừa qua, Thủ tướng Đức Angela Merkel lên tiếng bà sẽ gửi đoàn bác sĩ đến Ukraina để thảo luận với Tổng thống Viktor Yanukovich về việc đưa cựu Thủ tướng Tymoshenko đến Đức để chữa bệnh theo yêu cầu của bà Tymoshenko.
Trong những ngày gần đây, tình hình tại biển Đông lại có xu hướng nóng lên với những tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Đây là điều dễ hiểu vì lợi ích tại biển Đông đối với Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền ở khu vực này là rất lớn.
Một kế hoạch của chính phủ trung ương Trung Quốc nhằm tạo ra sự đột phá lớn trong công nghiệp du lịch trên hòn đảo nhiệt đới Hải Nam dự báo sự tăng trưởng vượt bậc trong kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng làm rộng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo mà Bắc Kinh đang cố gắng thu hẹp.
So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.
Chuyện Tổng thống Nga Vladimir Putin không tới tham dự hội nghị thượng đỉnh 8 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G8), thay vào đó là Thủ tướng Dmitry Medvedev, đang tạo ra nhiều câu hỏi về lý do thực sự của nó.