Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Các kiểm định về sự tồn tại của các mối quan hệ dài hạn như điều kiện ngang bằng sức mua và cân bằng của thị trường tiền tệ cũng được thực hiện để kiểm tra khả năng ảnh hưởng của chúng đến giá cả. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
1. Cơ sở lý thuyết
Chúng tôi xây dựng một mô hình lý thuyết đơn giản về các nhân tố xác định lạm phát. Mục tiêu chính của mô hình này là nhằm phân tích tác động của các biến số khác nhau đến lạm phát ở Việt Nam. Về mặt lý thuyết, lạm phát có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm1:
- Thặng dư cầu về hàng hóa và dịch vụ từ khu vực tư nhân - Thặng dư cầu về các nhân tố sản xuất - Thặng dư lượng tiền trong lưu thông dẫn đến thặng dư tổng cầu - Thâm hụt tài khóa - Cú sốc từ thế giới bên ngoài ảnh hưởng đến tỉ giá và xuất nhập khẩu - Các yếu tố thuộc phía cung như năng suất lao động, chi phí đầu vào và hành vi thiết lập giá của doanh nghiệp - Các nhân tố khác như chiến tranh, cú sốc giá cả hàng hóa đầu vào trên thế giới, sự kiểm soát giá cả. Ngoài ra, các yếu tố phi kinh tế khác như vai trò của thể chế, môi trường chính trị, văn hóa… cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát.
Tóm lại, các nhà kinh tế có thể chia các nhân tố xác định lạm phát thành bốn nhóm chính. Thứ nhất, đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu ví dụ như thặng dư cung tiền và thâm hụt tài khóa. Thứ hai, đó là nhóm các cú sốc thực hay cú sốc tổng cung ví dụ như sự mất giá của đồng nội tệ, sự gia tăng của tiền lương, lãi suất, thuế, và giá cả các yếu tố đầu vào. Thứ ba, đó là nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến sự cứng nhắc của giá cả ví dụ như kì vọng, sự chậm thay đổi của giá cả và tiền lương do hành vi thiết lập giá,… Và cuối cùng là nhóm các yếu tố thể chế.
Trong một nền kinh tế thực, lạm phát có thể xảy ra do ảnh hưởng hỗn hợp của các nhân tố kể trên. Mô hình lý thuyết chúng tôi trình bày dưới đây chủ yếu dựa trên các nghiên cứu về lạm phát ở các nền kinh tế chuyển đổi ví dụ như Kim (2001) và Lissovolik (2003). Do sự hạn chế về số liệu phản ánh các cú sốc cung như tiền lương, năng suất lao động, giá cả các yếu tố đầu vào, nên mô hình chúng tôi xây dựng ở đây chủ yếu xem xét vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu. Xuất phát điểm của mô hình này chính là mô hình IS – LM chuẩn cho một nền kinh tế nhỏ mở. Tất cả các biến số (trừ lãi suất) đều được biểu diễn dưới dạng logarit cơ số tự nhiên.
Lý thuyết kinh tế cho chúng ta biết, tại một thời điểm bất kì, mức giá chung của nền kinh tế (thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng CPI) là trung bình có trọng số của giá cả các hàng hóa thương mại (có trao đổi với thế giới bên ngoài) và giá cả hàng hóa phi thương mại (chỉ bán trong nước).
(1)
trong đó ptlà mức giá chung, ptt giá cả hàng hóa thương mại, pnt giá cả hàng hóa phi thương mại, và là tỉ trọng của hàng hóa thương mại trong giỏ hàng tiêu dùng.
Giá cả hàng hóa thương mại của một nền kinh tế nhỏ mở được quyết định bởi thị trường thế giới và phụ thuộc vào giá cả ở nước ngoài, ptt và tỉ giá hối đoái, et. Sự gia tăng của giá cả nước ngoài và sự lên giá của đồng nội tệ sẽ dẫn đến sự gia tăng giá cả trong nước do vậy ta có:
(2)
Giá cả của hàng hóa phi thương mại phụ thuộc vào thị trường tiền tệ trong nước với giả định rằng cầu về hàng hóa phi thương mại biến động cùng chiều với tổng cầu của nền kinh tế. Do vậy giá cả của hàng hóa phi thương mại được xác định bởi điều kiện cân bằng của thị trường tiền tệ, tức là khi cung tiền thực tế, (mt - pt), bằng với cầu tiền thực tế, (mdt - pt):
(3)
trong đó là tham số phản ánh mối quan hệ giữa tổng cầu và cầu về hàng hóa phi thương mại. Hàm cầu tiền được xác định như sau:
(4)
trong đó và lần lượt là hệ số co dãn của cầu tiền thực tế theo thu nhập thực tế và lợi tức kì vọng. Thay phương trình (4) vào phương trình (3) chúng ta có:
(5)
Cuối cùng, thay các phương trình (2) và (5) vào phương trình (1) chúng ta thu được hàm phản ánh mức giá chung của nền kinh tế như sau:
(6)
Phương trình này cho chúng ta thấy mức giá chung của nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào cung tiền, giá cả thế giới, thu nhập thực tế, lãi suất và tỉ giá hối đoái. Các biến trễ có thể được đưa vào để phản ánh sự chậm điều chỉnh hay tính cứng nhắc của giá cả.
2. Phương pháp ước lượng
Để xác định các nhân tố quyết định lạm phát trong mô hình thực nghiệm, chúng tôi thực hiện theo các bước sau: Thứ nhất, chúng tôi thực hiện việc kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian sử dụng trong mô hình thực nghiệm. Các chuỗi này, trừ lãi suất, đều ở dạng logarit cơ số tự nhiên và bao gồm chỉ số giá tiêu dùng (lp), tổng sản phẩm quốc nội (ly), cung tiền rộng M2 (lm), tỉ giá hối đoái danh nghĩa của đồng USD tính theo VND (lex), lãi suất tiền gửi (r), và giá dầu thô thế giới (loil). ở đây chúng tôi sử dụng giá dầu thô thế giới làm biến đại diện xấp xỉ cho mức giá thế giới. Nếu các chuỗi này là không dừng (hay có nghiệm đơn vị), chúng ta phải lấy sai phân cho tới khi nó có tính dừng trước khi đưa vào mô hình thực nghiệm. Giữa các chuỗi số không dừng có thể tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp (mối quan hệ trong dài hạn).
Bước hai, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích đồng tích hợp của Engle – Granger (1987) và Johansen (1990) nhằm xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến. Với các biến số sử dụng trong mô hình, chúng tôi tập trung kiểm tra hai mối quan hệ dài hạn có thể có trong mô hình đó là: (i) mối quan hệ giữa các biến giá cả trong nước, tỉ giá, và giá cả thế giới (điều kiện ngang bằng sức mua – PPP) và; (ii) mối quan hệ giữa các biến trên thị trường tiền tệ bao gồm cung tiền, giá cả, thu nhập và lãi suất (đường LM).
Cuối cùng, chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát mối quan hệ động trong ngắn hạn giữa lạm phát và các nhân tố xác định nó. Mô hình điều chỉnh sai số (ECM) có thể được sử dụng nếu tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn kể trên.
2.1 Kiểm định tính dừng
Các chuỗi thời gian chúng tôi sử dụng trong mô hình có thời gian từ quý 1 năm 1995 đến quý 4 năm 2008, thu thập từ các nguồn như Tổng Cục Thống Kê và Ngân Hàng Nhà Nước. Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian chúng tôi dựa vào kiểm định ADF (Augmented Dickey-Fuller) truyền thống. Kiểm định PP (Phillips Peron) cũng được tham khảo để tăng thêm tính chính xác đối với kết luận về tính dừng của các chuỗi. Độ trễ trong kiểm định ADF được lựa chọn dựa trên các chỉ tiêu AIC (Akaike Information Criterion) và SIC (Schwarz Information Criterion). Ngoài ra, chúng ta có thể thực hiện kiểm định tự tương quan đối với sai số trong kiểm định về tính dừng nhằm lựa chọn được độ trễ hợp lý.
Kết quả kiểm định tính dừng trình bày trong Bảng 1 cho thấy biến lãi suất có tính dừng ở mức ý nghĩa 5% với cả hai loại kiểm định ADF và PP. Tất cả các chuỗi số còn lại đều không dừng thậm chí với sai phân bậc nhất theo mùa vụ. Sai phân bậc hai của các chuỗi này có tính dừng ở mức ý nghĩa 1%. Chúng ta có thể kết luận rằng tất cả các chuỗi số, trừ lãi suất, đều là tích hợp bậc hai, I(2). Sai phân theo mùa vụ của các chuỗi này là tích hợp bậc nhất, I(1). Còn sai phân bậc hai của chúng là tích hợp bậc không, I(0), hay có tính dừng. Do vậy, sai phân bậc hai của các chuỗi số này sẽ được sử dụng trong mô hình xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam.
2.2 Xác định các mối quan hệ trong dài hạn
Phần này chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích đồng tích hợp khác nhau để xác định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến số được dự kiến sử dụng trong mô hình xác định lạm phát ở Việt Nam. Nếu các biến số sử dụng trong mô hình có một mối liên hệ nào đó với nhau theo các lý thuyết kinh tế thì trong dài hạn chúng sẽ không đi chệch khỏi mối quan hệ này. Với những biến số trong mô hình, hai mối quan hệ dài hạn có thể có mà chúng tôi xem xét ở đây là mối quan hệ ngang bằng sức mua và hàm cầu tiền. Kết quả kiểm định tính dừng cho thấy sai phân bậc nhất theo mùa vụ của các biến này, trừ biến lãi suất, là tích hợp bậc nhất. Do vậy sai phân bậc nhất sẽ được sử dụng để kiểm định mối quan hệ đồng tích hợp.
a.Điều kiện ngang bằng sức mua
Các biến giá cả trong nước, giá cả quốc tế, và tỉ giá hối đoái có thể có mối quan hệ trong dài hạn, hay còn gọi là điều kiện ngang bằng sức mua. Do sự hạn chế về số liệu về giá trị xuất nhập khẩu và tỉ giá từ các thị trường khác nhau trên thế giới nên chúng tôi không thể tính được tỉ giá hối hối đoái hiệu quả danh nghĩa (nominal effective exchange rate). Biến tỉ giá chúng tôi sử dụng thay thế ở đây là tỉ giá VND/USD. Đồng thời, chúng tôi cũng dùng biến giá dầu thế giới làm biến xấp xỉ cho mức giá cả thế giới.
Kết quả của kiểm định đồng tích hợp đối với các biến này theo cả phương pháp Engle-Granger và Johansen cho thấy không có mối quan hệ đồng tích hợp giữa các biến này2. Do vậy cơ chế điều chỉnh sai số (ecm) của mối quan hệ này sẽ không được đưa vào mô hình xác định các nhân tố quyết định lạm phát.
b.Hàm cầu tiền
Các biến tổng phương tiện thanh toán, giá cả, thu nhập thực tế, và chi phí cơ hội của việc giữ tiền có thể có mối quan hệ với nhau trong dài hạn thông qua hàm cầu tiền. Lý thuyết kinh tế cho chúng ta biết rằng sự gia tăng của thu nhập thực tế hoặc sự giảm sút của chi phí cơ hội của việc giữ tiền sẽ dẫn đến sự gia tăng của cầu tiền. Do vậy, trong dài hạn các biến số này không thể tách rời nhau, hay nói cách khác chúng có quan hệ đồng tích hợp.
Kết quả kiểm định đồng tích hợp theo phương pháp Engle-Granger cho thấy có thể tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến kể trên. Thống kê kiểm định PP có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, trong khi đó thống kê kiểm định ADF có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Bên cạnh đó, kết quả kiểm định theo phương pháp Johansen cho thấy có thể có tới 3 mối quan hệ đồng tích hợp giữa các biến số tổng phương tiện thanh toán, giá cả, thu nhập thực tế, và lãi suất. Các cơ chế tự điều chỉnh sẽ được đưa vào mô hình xác định lạm phát, tuy nhiên cơ chế nào không có ý nghĩa thống kê sau đó sẽ bị loại khoải mô hình.
2.3 Mô hình các nhân tố quyết định lạm phát
Mô hình ước lượng các nhân tố quyết định lạm phát trong ngắn hạn dựa trên phương trình (6) được xác định như sau:
(7)
trong đó d2l chỉ sai phân bậc hai log của chỉ số giá tiêu dùng (p), giá dầu thế giới (oil), cung tiền (m), tỉ giá hối đoái (ex), và tổng sản phẩm quốc nội (gdp); r là lãi suất và; ecm là cơ chế điều chỉnh sai số. Nếu các tham số αi của các cơ chế tự điều chỉnh ecmj có ý nghĩa thống kê thì phương trình này hàm ý sự biến động lạm phát không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố như hàm ý trong phương trình (6) mà còn phụ thuộc vào tốc độ điều chỉnh của các thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ.
3.Kết quả ước lượng
Chúng tôi giới hạn độ trễ tối đa của các biến ở độ trễ 8 (tương đương với 2 năm) và thực hiện ước lượng phương trình (7) theo phương pháp truyền thống. Những tham số không có ý nghĩa thống kê sẽ được loại bỏ dần khỏi mô hình. Kết quả cuối cùng được trình bày trong Bảng 2.
Mô hình gồm nhiều biến với các độ trễ khác nhau, hơn nữa các biến sử dụng trong mô hình ở dạng sai phân bậc hai nên việc đọc hiểu kết quả ước lượng không hề dễ dàng. Ví dụ biến phụ thuộc d2lp có nghĩa là sự thay đổi của tỉ lệ lạm phát (tính theo % thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kì năm trước) của quý này so với quý liền kề trước đó. Do sự phức tạp này nên chúng tôi không đi sâu vào đọc hiểu ý nghĩa của từng tham số mà chỉ tập trung xác định xu hướng và độ trễ ảnh hưởng của các biến độc lập đối với lạm phát. Kết quả trình bày trong Bảng 2 cho ta một số hàm ý chung như sau:
Thứ nhất, kết quả ước lượng cho thấy lạm phát của quý trước có ảnh hưởng lớn đến lạm phát hiện tại. Điều này hàm ý sự ra tăng lạm phát ở Việt Nam thường kéo dài liên tiếp trong hai quý có thể do một số nguyên nhân như: Sự phản ứng chậm trễ của các chính sách kiềm chế lạm phát, tính chất “dai dẳng” của hành vi tăng giá, kì vọng thích nghi về lạm phát (tức là, nếu lạm phát trong thời kì trước ở mức cao, công chúng sẽ kì vọng mức lạm phát cao trong tương lai và gây ra lạm phát). Lạm phát ở các độ trễ 2, 5 và 7 cũng có tương quan với lạm phát hiện tại nhưng theo chiều ngược lại. Điều này cho thấy khoảng hai quý sau khi có sự gia tăng của lạm phát thì lạm phát thường có xu hướng giảm khi những chính sách kiềm chế lạm phát phát huy tác dụng.
Bảng 2 cũng cho thấy lạm phát trong nước trong thời kì này không chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá dầu thế giới do chính sách trợ giá xăng dầu trong nước của Việt Nam. Sự thay đổi của tỉ giá cũng có những chiều hướng tác động trái chiều nhau và ở những độ trễ khác nhau đối với lạm phát. Sự mất giá của đồng nội tệ so với đồng USD có thể làm giá hàng nhập khẩu đắt hơn và làm tăng lạm phát trong nước. Tuy nhiên, nếu trong cùng thời gian đó đồng tiền của các nước mà Việt Nam nhập khẩu mất giá nhiều hơn so với đồng USD thì mối quan hệ trên có thể có chiều ngược lại. Việc sử dụng tỉ giá hối đoái hiệu quả danh nghĩa (tức là tỉ giá bình quân theo tỉ trọng thương mại từ các thị trường khác nhau) sẽ cho kết quả chính xác hơn. Tuy nhiên, sự hạn chế về số liệu không cho phép chúng tôi thực hiện điều đó.
Kết quả quan trọng của mô hình này nằm ở tác động của các biến thuộc chính sách tiền tệ. Kết quả ước lượng cho thấy sự thay đổi của cung tiền có tác mạnh đến lạm phát kể từ quý thứ ba trở đi sau khi thực hiện sự điều chỉnh chính sách. Do vậy những chính sách mở rộng cung tiền và tín dụng nhằm mục tiêu kích cầu như hiện nay cần phải thực hiện với sự cẩn trọng lớn và có cái nhìn dài hạn. Ngoài ra, kết quả đối với biến lãi suất cho thấy sự phản ứng chậm chạp của chính sách tiền tệ trong giai đoạn này đối với lạm phát. Biến lãi suất với độ trễ 1 có mối quan hệ dương đối với lạm phát hàm ý sự phản ứng của lãi suất đối với lạm phát mang tính thích ứng chứ không mang tính chủ động ngăn chặn. Tức là, khi lạm phát xảy ra rồi thì lãi suất được điều chỉnh tăng theo. Sự gia tăng của lãi suất chỉ có tác động làm giảm lạm phát kể từ quý thứ hai sau khi có lạm phát xảy ra. Kết quả này rõ ràng cho thấy công cụ lãi suất cần được sử dụng linh hoạt và phản ứng nhanh nhạy hơn đối với những sức ép lạm phát nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế. Cuối cùng, dấu dương của các tham số đi liền với biến gdp phản ánh tác động cùng chiều của gdp, và do vậy là tổng cầu, đối với lạm phát ở các độ trễ khác nhau.
Các kiểm định sau ước lượng cũng được thực hiện nhằm đảm bảo tính hợp lý của mô hình. Kết quả kiểm định trình bày trong Bảng 3 cho thấy mô hình không có bệnh tự tương quan hay phương sai sai số thay đổi. Nhìn chung mô hình mô tả khá tốt sự biến động của lạm phát. Các biến độc lập có thể thích tới 87% sự biến động của lạm phát trong ngắn hạn.
Hình 1: Chuỗi thời gian - dạng logarit
Hình 2: Chuỗi thời gian - sai phân bậc nhất theo mùa vụ
Hình 3: Chuỗi thời gian - sai phân bậc hai
Hình 4: Lạm phát thực tế, lạm phát theo mô hình và sai số
1 Tham khảo bài báo của Hendry (1999). 2 Kết quả kiểm định chi tiết sẽ được cung cấp nếu bạn đọc có yêu cầu.
Tài liệu tham khảo chính:
1. Hendry, David F., ”Does Money Determine UK Inflation over the Long Run?” In R. Backhouse and Salanti, A. (Eds.), Macroeconomics and the Real World. Oxford: Oxford University Press, 2000. 2. Kim, Byung-Yeon, ”Determinants of Inflation in Poland: a Structural Cointegration Approach.” Discussion Papers No. 16. Helsinki: Bank of Finland, Institute for Economies in Transition, BOFIT, 2001. 3. Lissovolik, Bogdan, ”Determinants of Inflation in a Transition Economy: the Case of Ukraine.” Working Paper No. 03/126. Washington, D.C.: IMF, June 2003
.
(TS. Phạm Thế Anh// Theo Tạp chí Kinh tế và Phát triển)
Nghị quyết Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 4 yêu cầu NHNN có biện pháp để hạ lãi suất huy động xuống khoảng 10%, lãi suất cho vay 12%. Để thực hiện yêu cầu này, các NHTM cho rằng, cần phải có lộ trình.
Hiện cả nước có khoảng 20 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng đang phải tăng tốc thực hiện kế hoạch tăng vốn nhằm đáp ứng quy định của Chính phủ.
Từ đầu năm đến nay, đồng Euro đã mất giá khoảng 8,5% so với đồng USD, kéo theo hậu quả: lạm phát có thể tăng, cổ phiếu trượt giá, các nhà xuất khẩu hàng hóa lo lắng…
Trái với chủ trương tiết giảm chi phí đầu vào để có thêm điều kiện giảm lãi suất cho vay thỏa thuận, trong những ngày vừa qua, nhiều ngân hàng lại có động thái điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động VND,
Tuần qua, thị trường ngoại tệ tự do đột biến tăng giá khi Hãng Bloomberg đăng tin về việc CTCK Sài Gòn (SSI) đưa ra dự báo VNĐ có thể mất giá 4%. Ngay sau đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chính thức bác bỏ thông tin này và giá USD đã tụt áp trở lại.
Việc giảm lãi suất xuống mức hợp lý có thể thực hiện được nhưng không phải bằng các biện pháp hành chính, TS Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa Việt Nam trao đổi với Đất Việt.
Trong những tháng đầu năm 2010, mặc dù kinh tế nước ta tiếp tục đối mặt với những khó khăn và thách thức mới nhưng với sự chủ động, linh hoạt và thận trọng,
Nhìn vào kế hoạch kiểm tra, thanh tra các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2010 mà Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) dự kiến thực hiện, dễ dàng nhận thấy việc kiểm tra giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm đang ngày càng được tăng cường hơn.
Tháng 4 gửi tiết kiệm bằng VNĐ của các NHTM tăng 3,33%, trong khi tiền gửi bằng ngoại tệ chỉ tăng 0,78%. Điều này cho thấy tăng trưởng vốn huy động tiền đồng của các NHTM vẫn tốt dù lãi suất có xu hướng giảm dần. Nhưng nhiều NHTM thừa nhận nguồn vốn huy động vẫn tập trung ở các kỳ hạn ngắn. Điều này làm các NHTM khó đẩy mạnh cho vay trung-dài hạn.
Nếu đến ngày 30.6.2010 không trình ngân hàng Nhà nước hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn, ngân hàng phải có phương án chấm dứt tư cách pháp nhân bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại, tự giải thể, theo thông tư ban hành ngày 10.5 của ngân hàng Nhà nước.
Theo số liệu thống kê, hiện nay vốn từ khu vực FDI chiếm trên 40% tổng nguồn vốn huy động phát triển kinh tế; đóng góp vào GDP cả nước khoảng 30%. Thế nhưng, chất lượng thực sự của khu vực này còn nhiều điều cần phải xem xét, nhất là trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững.
Những phép toán khá đơn giản, cộng trừ nhân chia, xung quanh thu chi ngân sách năm 2009. Nhưng đáp số lại không rõ ràng. Người ta không thể dứt khoát con số bội chi ngân sách năm qua!
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.