Để thực sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước cần rất nhiều giải pháp, cả ở tầm vĩ mô và vi mô trong một chiến lược tổng thể có tầm nhìn khả thi, khoa học và hợp lý. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh đẩy mạnh tín dụng phục vụ sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn VN trong những năm tới.
Tỷ trọng tín dụng cho nông nghiệp trong tổng tín dụng từ 1999 - 2009 (ĐVT: %)
Trong tổng số 86 triệu người dân VN (2009) thì vẫn có tới 60,6 triệu người sống ở khu vực nông thôn, chiếm 70,4% tổng dân số. Trong tổng diện tích cả nước 331.051 km2 thì đất nông nghiệp là 251.273 km2 (chiếm tới 75,9%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 95.988 km2, đất lâm nghiệp là 147.578 km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.384 km2 và đất ở tại nông thôn là 5.151 km2 (chiếm 81% tổng diện tích đất ở của cả nước).
Đầu tư chưa tương xứng
Rõ ràng, mặc dù sở hữu một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất là đất đai và người lao động song đóng góp của khu vực nông nghiệp nông thôn vào tăng trưởng kinh tế vẫn chưa tương xứng với tỷ trọng khu vực nông lâm thủy sản trong GDP giảm từ trên 40%GDP trước khi đổi mới xuống dao động quanh mức 20%GDP trong những năm gần đây. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm tới gần 80%, ngành chăn nuôi cho dù đã có nhiều nỗ lực cũng chiếm chưa tới 20% giá trị sản xuất nông nghiệp, còn tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm chưa tới 2,5%.
Nguyên nhân có nhiều song cơ bản là do khu vực nông nghiệp nông thôn chưa được đầu tư tương xứng trong khi chuyển dịch cơ cấu lao động không theo kịp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hơn nữa, trong các yếu tố tăng trưởng hàng đầu là lao động, đất đai, vốn, công nghệ và năng suất lao động thì nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào hai yếu tố đầu tiên.
Sau gần ¼ thế kỷ đổi mới, nông nghiệp nông thôn VN vẫn dừng lại ở phương thức sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún với công nghệ lạc hậu. Bên cạnh đó, mặc dù mỗi năm chúng ta xuất khẩu hơn 10 tỷ USD nông lâm thuỷ sản, đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu các mặt hàng nông sản quan trọng như gạo, cà phê, tôm, cá, chè, cao su, hạt điều,... song chủ yếu vẫn là xuất khẩu nguyên liệu thô, hàm lượng chế biến thấp, số lượng và chất lượng đều thiếu ổn định trong khi lại phải nhập khẩu nhiều sản phẩm là đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi,... thậm chí một số nông sản vốn là ưu thế của VN vẫn bị hàng ngoại nhập lấn sân ngay trên “sân nhà”.
Theo báo cáo chính thức, tỷ lệ vốn đầu tư hàng năm cho nông nghiệp chiếm khoảng 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nên mặc dù tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng liên tục trên 40% GDP những năm gần đây song phần vốn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn còn khoảng cách rất xa so với nhu cầu và lại càng giãn rộng nếu so sánh với phần vốn đầu tư dành cho khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ. Vấn đề này thể hiện trong cả vốn đầu tư nhà nước, vốn đầu trực tiếp nước ngoài cũng như vốn đầu tư ngoài nhà nước và trong chừng mực nào đó cả trong ưu đãi đầu tư.
Khát vốn
Khu vực nông nghiệp nông thôn đang “khát” cả vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh và vốn đầu tư cho tiêu dùng của hàng chục triệu hộ gia đình nông dân. Nông nghiệp nông thôn có nhu cầu lớn về vốn, trong đó có vốn tín dụng để mua sắm những tư liệu sản xuất quan trọng như máy móc thiết bị nông nghiệp phục vụ tưới tiêu, làm đất, chăm sóc cây trồng vật nuôi, thu hoạch, bảo quản, chế biến,... như phương tiện vận tải (ôtô, máy kéo, máy cày, xe thô sơ, tàu thuyền,... như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi,... như điện, xăng dầu,...
Bên cạnh đó, nông nghiệp nông thôn còn có nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư nói chung, vay vốn tín dụng nói riêng nhằm cung ứng các tư liệu tiêu dùng như lương thực thực phẩm, hàng công nghiệp (may mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân và gia đình,...), vật liệu xây dựng, nội thất, phương tiện đi lại (xe đạp, xe máy, ôtô, thuyền, xuồng,...) cũng như thụ hưởng các loại hình dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp (thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, khoa học kỹ thuật,...), dịch vụ môi trường, dịch vụ tiêu dùng cá nhân - hộ gia đình, dịch vụ văn hoá - giáo dục đào tạo - y tế - xã hội,... Tất cả những nhu cầu tất yếu khách quan đó của hàng chục triệu hộ nông dân VN đang bị hạn chế bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau song nguyên nhân cơ bản nhất là hạn chế về thu nhập. Mặc dù đến cuối năm 2009 VN đã gia nhập những nước có mức thu nhập trung bình với bình quân thu nhập đầu người trên 1.000 USD/năm song tỷ lệ hộ nghèo của VN vẫn còn cao. Hơn nữa đại đa số số hộ nghèo đó lại ở khu vực nông nghiệp nông thôn.
Bên cạnh đó, thu nhập của các hộ nông dân VN không chỉ thấp mà còn ngày càng cách xa so với thu nhập của khu vực thành thị phi nông nghiệp. Báo cáo của TCTK cho thấy, nếu thu nhập bình quân đầu người năm 2008 là 995.000 VND/tháng thì của khu vực nông thôn chỉ có 762.000 VND/tháng còn của khu vực thành thị tới 1,6 triệu VND/tháng.
Theo đó, chi tiêu của khu vực nông nghiệp nông thôn bị hạn chế rất nhiều với chi tiêu bình quân đầu người năm 2008 chỉ có 619.000 VND/tháng trong khi con số này ở khu vực đô thị là gần 1,25 triệu VND/tháng còn của cả nước là 792.000 VND/tháng.
Rõ ràng, khu vực nông nghiệp nông thôn đang rất khát các nguồn vốn để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, mức sống và khả năng chi tiêu, cải thiện các điều kiện văn hoá - xã hội,... nhưng vẫn đang tồn tại một khoảng cách khá xa giữa nhu cầu về vốn và thực tế đáp ứng. Chỉ lấy riêng trường hợp vốn tín dụng dành cho nông nghiệp nông thôn làm ví dụ.
Cần tháo "vòng kim cô”
Các hộ nông dân VN ngày càng khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng mặc dù chúng ta có không ít định chế tín dụng hướng vào phục vụ cho người nông dân.
Tỷ trọng tín dụng cho nông nghiệp trong tổng tín dụng hàng năm đã giảm từ mức xấp xỉ 30% giai đoạn 2002-2008 xuống còn khoảng 18% năm 2009. Các hộ nông dân VN ngày càng khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng mặc dù chúng ta có không ít định chế tín dụng hướng vào phục vụ cho nông dân như Ngân hàng NN-PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển VN và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân,... với các chương trình cho vay ưu đãi từ 50 triệu VND, thậm chí tới 500 triệu VND mà không cần thế chấp, đi đôi với việc phát triển tài chính vi mô với sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và cả các tổ chức nước ngoài. Kết quả là nông nghiệp nông thôn VN thiếu cả vốn dành cho sản xuất kinh doanh cũng như vốn dành cho đời sống sinh hoạt, thị trường tín dụng đen vẫn còn nhiều đất sống, đặc biệt ở khu vực nông thôn, các vụ vi phạm pháp luật liên quan tới tín dụng nông nghiệp nông thôn hầu như không giảm, thậm chí còn tăng,... Rủi ro của các hộ nông dân rất cao mỗi khi gặp thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,... do thu nhập quá thấp nên không ít người trong số họ buộc phải tìm cách vay nợ khắp nơi, thậm chí là “vay nóng” với “lãi suất cắt cổ” để mua sắm tư liệu sản xuất, hay chỉ là đóng tiền cho con đi học, đi chữa bệnh, đi lao động ở nước ngoài,...
Có rất nhiều lý do khác nhau để giải thích cho những bức xúc về tiếp cận tín dụng nói riêng, có vốn để sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống sinh hoạt nói chung. Song tựu trung là những hạn chế nằm trong phương thức sản xuất nông nghiệp của VN hiện nay gắn với cái “vòng kim cô” là thu nhập thấp, nghèo nên thiếu vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, đầu tư vào máy móc công nghệ để tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đầu tư vào con người để nâng cao trình độ,... Cũng vì nghèo nên thiếu tài sản có giá trị để thế chấp cầm cố vay vốn ngân hàng,... nên khó có thể thoát nghèo, khó có cơ hội nâng cao thu nhập và nông nghiệp VN vẫn giẫm chân tại chỗ, khó có thể tạo ra và thu hút các nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn.
Chừng nào chúng ta chưa phá được cái “vòng kim cô” đó thì nông nghiệp nông thôn cũng như các hộ nông dân VN còn khó có thể phát triển và khoảng cách giữa nông thôn với thành thị, giữa nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ càng khó thu hẹp.
Bên cạnh những chiến lược chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, cơ cấu lại nền kinh tế nông nghiệp và cơ cấu lao động,... thì biện pháp trước mắt có thể thực hiện ngay để giải quyết vấn đề vốn cho nông nghiệp nông thôn và nông dân chính là tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho khu vực này thông qua xác lập cơ chế thực thi đơn giản và rõ ràng để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách với thực tế triển khai. Đồng thời, rất quan trọng là cần xây dựng ngay một cơ chế bảo lãnh tín dụng cho nông nghiệp nông thôn và nông dân thay vì phải cầm cố hay “nộp” giấy sử dụng đất - tài sản gần như duy nhất đáng giá của các hộ nông dân - như hiện nay.
Một cách căn ke, lãi suất thực mà người vay vốn nhận được không chỉ gói gọn ở con số phần trăm trên hợp đồng. Hiểu và thực sự hỗ trợ họ sau những con số đó là một cách để “giảm” lãi suất thực tế.
Rủi ro tài chính vĩ mô đáng kể nhất mà Việt Nam có thể gặp phải trong trung hạn là vấn đề tiền tệ, cụ thể là vấn đề tỷ giá hối đoái, khi mà sức ép tỷ giá đang gia tăng từ nhiều phía như thâm hụt vãng lai lớn (chênh lệch giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm nội địa trên GDP rất lớn là 12%); tài sản có ngoại tệ ròng của hệ thống ngân hàng giảm mạnh; tỷ lệ vốn từ bên ngoài so với dự trữ ngoại tệ đã tăng từ 37% năm 2009 lên 80%, ...
Hai năm qua, khoảng 4.000 cơ quan tài chính của các chính quyền địa phương trên cả nước Trung Quốc đã vay hơn 7.700 tỉ NDT (hơn 1.134 tỉ đô la Mỹ). Ứớc tính đến năm 2011, các khoản nợ địa phương có thể lên đến 10.000 tỉ NDT (gần 1.473 tỉ đô la Mỹ), trong khi một số cơ quan phương Tây cho rằng nợ của chính quyền địa phương Trung Quốc hiện đã lên đến 12.000 tỉ NDT (hơn 1.767 tỉ đô la Mỹ).
Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học đều chỉ ra rằng một dân số được giáo dục tử tế và cơ sở hạ tầng chất lượng cao đều quan trọng trong quá trình phát triển. Các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực rất lớn để nâng cấp đường xá, cầu cảng và trường lớp của họ, trọng khí ấy nước Mỹ đang lùi lại phía sau.
Các ngân hàng thương mại đang phải chịu sức ép lớn từ việc cơ cấu lại các khoản đầu tư. Khi chỉ còn 3 tháng nữa là NHNN mạnh tay siết lại hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Với kỳ vọng hoàn tất được mục tiêu tăng trưởng tín dụng đề ra, khi thời gian còn lại của năm không còn nhiều, các nhà băng đang ra sức tiếp thị vốn vay. Trong đó, mảng tín dụng được các nhà băng quan tâm nhiều chính là tài trợ vốn cho doanh nghiệp ở lĩnh vực xuất, nhập khẩu.
Các sàn giao dịch bất động sản đang “kêu trời” xung quanh việc Bộ Xây dựng gửi Sở Xây dựng TP HCM lấy ý kiến góp ý Thông tư 71 chuẩn bị ban hành, có nội dung cấm sàn giao dịch bất động sản không được tham gia đầu tư, kinh doanh nhà ở.
Dư cung ở phân khúc thị trường căn hộ cao cấp khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội đang phải ra sức khuyến mãi, mời chào. Đã đến lúc cần phải có hướng đi khác?
Mặc dù việc nâng tỉ giá liên ngân hàng đã giúp giảm bớt căng thẳng trên thị trường tiền tệ, nhưng với đà tăng nhập siêu, sức ép tỉ giá sẽ còn hiện hữu trong những tháng cuối năm.
Việc quy định các ngân hàng phải trích dự phòng chung 0,75% trên tổng dư nợ là mấu chốt của vấn đề vì sao các ngân hàng không thể hạ lãi suất cho vay, mặc dù quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là phải hạ lãi cho vay dưới 12%!
Ngày 24-8, tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), hai chuyên gia của dự án STAR (Dự án hỗ trợ thúc đẩy thương mại do Mỹ hỗ trợ) là ông James Riedel và bà Phạm Thu Trà đã có buổi tọa đàm với các chuyên gia kinh tế VN về báo cáo sơ bộ mang tựa đề “Toàn cầu hóa ở Việt Nam: Đi đâu, về đâu?”.
Ngân hàng (NH) thực hiện chuyển tiền cho khách hàng nhưng lại không cam kết khi nào tiền đến tay người nhận mặc dù đã có hệ thống thanh toán điện tử liên NH. Tình trạng trên xảy ra khá phổ biến tại nhiều nơi khiến không ít người lỡ công việc, mất cơ hội làm ăn...
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.