Theo Ngân hàng Thế giới, đến năm 2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của các nước Mỹ La-tinh đã lên đến 739 tỷ đô-la. Chỉ riêng số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của món nợ khổng lồ nói trên cũng đã ngốn mất hơn một nửa ngân sách hàng năm. Hệ lụy là những "con nghiên" vay nợ đã phải sống dở chết dở vì những món nợ chất chồng.
LTS:Trước tình trạng nợ nước ngoài đang là nhân tố chính gây mất ổn định tại nhiều quốc gia thuộc châu Mỹ La-tinh và Đông Nam Á, để cung cấp thêm thông tin cho độc giả, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của Thạc sĩ khoa học về Phát triển Xã hội Phạm Quang Hòa.
Sống dở chết dở vì nợ
Theo Ngân hàng Thế giới, đến năm 2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của các nước Mỹ La-tinh đã lên đến 739 tỷ đô-la, tăng 650 tỷ so với 40 năm trước đó. Chỉ riêng số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của món nợ khổng lồ nói trên cũng đã ngốn mất hơn một nửa ngân sách hàng năm. Mexico là nước mắc nợ nhiều nhất, 161 tỷ đô-la, tăng 181% so với đầu thập kỷ 80. Tiếp theo là Achentina, 139 tỷ, tăng 127% so với năm 1991.
Mặc dù Mexico, Achentina và Brazil là ba con nợ lớn ở Mỹ La-tinh, nhưng so với hoàn cảnh của các quốc gia nhỏ khác có nền kinh tế yếu kém hơn rất nhiều như Hondurat, Nicaragua, Bolivia và Guyanna thì với tổng số nợ 16 tỷ đô-la, tương lai của họ bi đát hơn nhiều.
Do tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con khiến nhiều quốc gia Mỹ La - tinh và Đông Nam á sống dở chết dở.
Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đang sống dở chết dở vì nợ nước ngoài. Bước sang những năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ 3, nợ nước ngoài của Indonesia đã đạt con số 150 tỷ và nước này trở thành một trong bốn con nợ lớn nhất thế giới, sau Mexico, Brazil và Achentina. Năm 1999, Indonesia đã phải dùng đến hơn 50% thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi và khấu hao nợ hàng năm.
Philipine, quốc gia được Hoa Kỳ ưu ái nhất Đông Nam Á, ngay từ tháng 10 năm 1983 đã phải tuyên bố là không thể tiếp tục trả lãi suất và khấu hao nợ hàng năm của món nợ nước ngoài 24 tỷ đô-la nhằm tìm kiếm một sự thoả hiệp từ các ngân hàng phương Tây. Và cũng giống như trường hợp của các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh, Philipine đã được các tổ chức tài chính đa quốc gia "ưu ái" cho vay thêm tiền để trả cho chính họ khoản lãi và khấu hao cơ bản của số tiền họ cho quốc gia này vay trước đó.
Những số liệu trích từ báo cáo của Michael Adamson, một nhà kinh tế người Mỹ dưới đây sẽ tự nó nói lên mức độ trầm trọng của việc trả lãi suất và khấu hao của món nợ nước ngoài của Philipine. Năm 1985, nếu như Chính phủ Philippine chỉ phải dành ra 22 tỷ pê-sô (khoảng 900 triệu đô-la theo thời giá) trong tổng số thu nhập 67 tỷ pê-sô để trả lãi và khấu hao tiền vay hàng năm thì đến năm 1999, con số này đã là 100 tỷ pê-sô (hơn 3 tỷ đô-la theo thời giá) trong tổng số thu nhập hàng năm 120 tỷ pê-sô.
Nếu năm 1980, cứ chi 4 đô-la cho giáo dục thì Philippine phải chi 3 đô-la trả lãi và khấu hao nợ nước ngoài. Các con số tương ứng là 10 và 22 đô-la của năm 1985 và 30 và 100 năm 1989.
Nói theo cách khác, tổng số tiền từ thu thuế của Chính phủ Philipine, khoảng 95 tỷ pê-sô năm 1989 đã không đủ để trả khoản tiền 100 tỷ pê-sô lãi và khấu hao nợ nước ngoài của chính năm đó.
Lệ thuộc vì nợ
Từ chỗ bị lệ thuộc vào phương Tây bởi nợ nước ngoài, Chính phủ các quốc gia con nợ đã tiến dần đến chỗ bị lệ thuộc về cả kinh tế lẫn chính trị. Để lấy lòng Hoa Kỳ, Mexico đã cam kết trong NAFTA sẽ đối xử với các công ty Mỹ đầu tư ở Mexico như các công ty trong nước, thậm chí còn hơn.
Thí dụ, Chính phủ Mexico cam kết sẽ bồi thường cho bất kỳ công ty Mỹ nào bị thiệt hại do thay đổi chính sách ở nước này. Điều đó dẫn đến một vụ việc chưa từng có là Chính phủ Mexico đã đồng ý cho một công ty Mỹ đầu tư vào bãi chứa chất thải độc hại ở Mexico. Nhưng khi chính quyền thành phố nơi có bãi chứa từ chối bởi lo sợ hiểm hoạ môi trường, công ty Mỹ đã kiện và Chính phủ Mexico đã phải bồi thường cho họ số tiền mà họ có thể kiếm được nếu được phép đầu tư.
Tại Indonexia, cuối năm 1999, khi Chính phủ nước này định can thiệp vào quá trình Đông Ti-mo tách ra khỏi Indonesia, các quốc gia phương Tây chỉ mới đe dọa ngừng cho Indonesia vay tiền, Chính phủ đã phải ngay lập tức án binh bất động và chấp nhận cho Úc đưa quân đội đến Đông Ti-mo.
Và bài học phải chi cho đúng
Để có vốn tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá, việc vay nợ nước ngoài là cần thiết. Nhiều quốc gia đi trước Việt Nam như Singapore, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc đều phải vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên, Chính phủ các quốc gia đó chỉ vay tiền để đầu tư vào hạ tầng cơ sở thiết yếu nhất để phục vụ phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
Tiền vay được quản lý cực kỳ chặt chẽ theo những nguyên tắc riêng và được sử dụng cực kỳ hiệu quả. Họ không vay tiền nước ngoài để làm những dự án làng nhàng kiểu như đắp các con lươn/chạch mỗi ngã tư rồi lại phá đi, hoặc trả tiền công cho nông dân bảo vệ rừng của chính mình, hoặc làm đẹp đô thị và xây dựng hệ thống toa-let ở một thành phố, hoặc làm những dự án quá khủng trong khi hạ tầng kỹ thuật trong nước chưa có gì, hoặc hoạch định những dự án không tưởng như đường sắt cao tốc...
Hạ tầng cơ sở của các quốc gia nói trên đã được quy hoạch và xây dựng theo tinh thần "chỉ làm một lần" nên có chất lượng rất cao, không phải làm xong rồi thì lại phải sửa ngay lập tức hoặc vài năm sau lại xoá đi làm lại hoặc nâng cấp và mở rộng.
Nếu cứ tiếp tục đi vay và sử dụng tiền vay như Hy Lạp đã làm trong những thập kỷ vừa qua, chắc chắn di sản có thể để lại cho tương lai là một món nợ khổng lồ. Xem ra đây cũng là bài học không thừa cho Việt Nam và các quốc gia đang phát triển quá nóng.
(Tác giả: PHẠM QUANG HÒA (THẠC SĨ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI) // TuanVietnam)
Khủng hoảng nợ ở châu Âu, đồng euro giảm giá, cung – cầu chênh lệch, lạm phát… là nguyên nhân đẩy giá vàng lên cao kỷ lục và chưa có dấu hiệu thuyên giảm.
Do không thể mạnh tay cắt giảm chi phí đầu vào để hạ lãi suất đầu ra, nên áp lực tăng trưởng dư nợ tín dụng càng đè nặng lên chỉ tiêu lợi nhuận của các ngân hàng.
Thời hạn để lập phương án và trình Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hồ sơ đề nghị chấp thuận tăng vốn điều lệ chưa đến, nhưng hiện hầu hết ngân hàng đã hoàn thành. Đặc biệt là với các ngân hàng quy mô vốn 1.000 tỷ đồng đã tranh thủ thời gian để sớm thực hiện kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn.
Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã làm rung động thị trường tài chính châu Âu và toàn cầu. Thị trường chứng khoán thế giới đã có những phiên giao dịch diễn ra trong hoảng loạn và sự phục hồi kinh tế thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng. Vậy khủng hoảng nợ công của Hy Lạp ảnh hưởng gì đến Việt Nam và bài học nào có thể rút ra từ cuộc khủng hoảng này?
Nhiều ngân hàng thương mại chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì một cái nhìn cứng nhắc về thị trường liên ngân hàng, khi quan niệm thị trường liên ngân hàng chỉ là để cấp cứu và chỉ cho phép các ngân hàng thương mại vay không quá 20% từ thị trường này.
Khi việc thâm nhập ngày càng tăng của kinh tế Trung Quốc tại khu vực mang lại nhiều vấn đề và khi hải quân Trung Quốc gia tăng sức sức mạnh, thì người dân Đông Nam Á trở nên có ý thức hơn về khoảng cách giữa lời nói và thực tế.
Giống như người nghiện ma tuý phải tăng dần cơ số thuốc gây nghiện sử dụng hàng ngày mới đảm bảo "đủ đô", các quốc gia trót mắc vào vòng xoáy nợ nần cũng phải tăng dần số tiền vay hàng năm mới trả nổi khoản lãi và khấu hao vốn 'tới hạn". Do phát triển quá nóng, do không quản lý được những khoản vay nợ, do vấn nạn tham nhũng.... không ít quốc gia trên thế giới đã bị nhấn chìm trong vòng xoáy nợ nần.
Một công ty cổ phần vừa “phát hiện” khu đất 9 ha hiện là đất nông nghiệp nằm ở phía nam đại lộ Láng – Hòa Lạc vẫn “chưa có chủ” và xin thành phố Hà Nội được ứng vốn đầu tư…
Bài báo nhan đề “Fear returns” (“Nỗi sợ hãi trở lại”) đăng trên tạp chí Economist cho rằng, từ chỗ là giải pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới đây, chính sách của các chính phủ giờ đây lại trở thành nguồn gốc gây phức tạp cho tình hình kinh tế thế giới.
Tiếp nối nỗi hoảng sợ do khủng hoảng nợ của Hy Lạp, tin tức về nợ của một loạt nước trên thế giới – từ các nước phát triển đến các nước đang nổi, lan tỏa nhanh chóng, báo hiệu một triển vọng không mấy sáng sủa của kinh tế thế giới. Những cảnh báo về nguy cơ một “cuộc khủng hoảng nợ” bắt đầu rộ lên.
Mới 6 tháng đầu năm 2010, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (BR-VT) đã ba lần triệu tập các ban, ngành, huyện - thị để bàn bạc, thống nhất các giải pháp, nhiệm vụ cấp bách nhằm tăng cường chuyển nguồn vốn đăng ký sang vốn thực hiện đối với các dự án được cấp phép đầu tư.
Ngân hàng thương mại chính là các công ty kinh doanh tiền tệ. Ở đó, họ dùng chính sách lãi suất để thu hút tiền gửi từ trong dân và cho các nhà doanh nghiệp vay để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
“Các ngân hàng đang phóng đại những ảnh hưởng của việc giám sát khối ngân hàng đối với nền kinh tế toàn cầu trong vài năm tới”, chuyên gia kinh tế phụ trách nghiên cứu về ảnh hưởng quốc tế của sự giám sát đã bày tỏ như vậy với tờ “Financial Times”.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.