Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đưa đất nước phát triển bền vững. Nâng cao hiệu quả đầu tư công
Trong những năm qua, đầu tư công chiếm gần một nửa tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Ðầu tư của Nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với tốc độ tương đối cao, nhờ đó, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả khả quan và mức sống của nhân dân được cải thiện.
Thực trạng đầu tư công
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước trong tổng đầu tư xã hội đã giảm khá nhanh, từ khoảng 59,17% năm 2000 xuống còn 28,5% năm 2008 (trong đó, đầu tư từ ngân sách nhà nước 16,2%, tín dụng nhà nước 4,1% và DNNN 8,2%); tỷ trọng đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng lên từ khoảng 22,85% lên 40% và tỷ trọng khu vực đầu tư nước ngoài tăng từ khoảng 17,98% lên 31,5% trong cùng thời kỳ. Nhưng, năm 2009, ước tính tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước lại tăng, chiếm khoảng 34,8% tổng đầu tư xã hội (trong đó đầu tư từ ngân sách 21,8%).
Về cơ cấu đầu tư, trong giai đoạn 2000-2008, 65% vốn đầu tư nhà nước đã tập trung vào 10 ngành, gồm: vận tải đường bộ, cung cấp nước, vận tải đường thủy, sản xuất điện và khí đốt, khai thác dầu khí, quản lý nhà nước, dịch vụ y tế và trợ cấp xã hội, dịch vụ viễn thông, văn hóa và thể thao và thủy lợi. 17% vốn đầu tư nhà nước được đầu tư cho 10 ngành khác là: thương mại, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, sản xuất phân hóa học, khai thác than, sản xuất xi-măng, khoa học và công nghệ, kinh doanh bất động sản, vận tải đường sắt, khách sạn và du lịch. Ðầu tư nhà nước vào dịch vụ tài chính, tiền tệ và các ngành công nghiệp chế biến công nghệ cao là chưa đáng kể. Trong khi đó, đầu tư nhà nước vẫn còn đáng kể ở một số ngành mà tư nhân có thể đã sẵn sàng đầu tư như: thương mại (2%), khách sạn (1%), xây dựng dân dụng (5%), du lịch (1%), dệt (1%)...
Báo cáo "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn đến 2020" của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế T.Ư cho thấy, xét về cơ cấu đầu tư theo mức giá trị gia tăng, thì khoảng 43% tổng đầu tư xã hội đã đầu tư vào 20 ngành có hệ số giá trị tăng thêm vốn đầu tư cao nhất (từ 1,28 trở lên); trong đó có hơn 43% vốn đầu tư của nhà nước, gần 36% vốn đầu tư ngoài nhà nước và 53,5% vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài đã tận dụng tốt nhất các ngành hiện đang có hiệu quả đầu tư cao của nền kinh tế nước ta. Hơn 30% tổng đầu tư xã hội đã đầu tư vào nhóm thứ hai, gồm 20 ngành có hệ số giá trị gia tăng đầu tư từ 0,54 đến l,24; trong đó, có hơn 26% vốn đầu tư nhà nước, 45,6% vốn đầu tư ngoài nhà nước và hơn 17% vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy đầu tư ngoài nhà nước đã khai thác tốt nhất nhóm ngành có hiệu quả trung bình khá.
Thực tế cho thấy tỷ trọng đầu tư (cả đầu tư xã hội và đầu tư nhà nước) vào nông nghiệp, nông thôn đã giảm đi khoảng một nửa kể từ năm 2000; đầu tư vào công nghiệp chế biến nông phẩm trước hết để phục vụ tiêu dùng nội địa rất kém phát triển; các sản phẩm bán chạy trên thị trường nội địa phần lớn do doanh nghiệp nước ngoài chi phối.
Về hiệu quả đầu tư công, người ta thường nói đến hai loại hiệu quả: hiệu quả kinh tế-xã hội và hiệu quả kinh tế (hay hiệu quả kinh doanh). Ðể tính toán, định lượng được hiệu quả kinh tế-xã hội của đầu tư công là một việc không dễ, vì nó liên quan, ảnh hưởng và tác động đến rất nhiều mặt của đời sống xã hội. Chẳng hạn, Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là nước thành công nhất trong đầu tư xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, chúng ta lại có không ít dự án đầu tư công lãng phí, không hiệu quả như đầu tư xây dựng nhiều chợ, nhiều cảng biển để rồi gần như bỏ không. Còn riêng hiệu quả kinh tế, thì thực tiễn cũng như tính toán cho thấy đầu tư công là kém hiệu quả.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công
Việt Nam mới bước vào giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và phát triển. Vì vậy, xu hướng tăng trưởng theo chiều rộng, tăng trưởng dựa vào số lượng vốn đầu tư và khai thác các ngành có lợi thế về tài nguyên và lao động có trình độ thấp, giá rẻ là điều khó tránh khỏi. Mặt khác, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã phát triển hết sức nhanh chóng cả về quy mô và mức độ, làm thay đổi các điều kiện bên ngoài đối với mô hình phát triển theo định hướng xuất khẩu. Trong bối cảnh như vậy, mô hình tăng trưởng thiên về xuất khẩu đang "vấp phải" những bất lợi, gây ra những mất cân đối ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. Từ đó có thể thấy, các nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư công là:
Thứ nhất, vì theo đuổi mô hình định hướng xuất khẩu, nên các ngành, sản phẩm phục vụ tiêu dùng nội địa, nhất là các sản phẩm dịch vụ, không được quan tâm đúng mức. Nhiều doanh nghiệp định hướng xuất khẩu đã không thể quay về thị trường nội địa mà phải thu hẹp sản xuất và chấp nhận các điều kiện thương mại bất lợi hơn. Như vậy, mô hình này đã phần nào chia cắt thị trường trong nước với thị trường bên ngoài. Do đó, cần cân bằng hơn trong chính sách và định hướng phát triển; phân bố nguồn lực, chính sách và các đòn bẩy khuyến khích cần phải "trung lập" hơn giữa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Thứ hai, hiệu quả đầu tư công thấp là hệ quả của hàng loạt các yếu tố, như đầu tư thiếu quy hoạch, thiếu kế hoạch chi tiết; đầu tư các dự án không còn cần thiết; đầu tư phân tán, vốn được phân bổ vào quá nhiều dự án nên các dự án thường bị thiếu vốn và kéo dài tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và chậm đưa công trình vào sử dụng; đầu tư dàn trải dẫn đến dư thừa công suất, tỷ suất sử dụng công trình không đạt như dự kiến, chi phí vận hành không giảm; đầu tư thiếu đồng bộ dẫn tới công trình cụ thể hoàn thành mà không đưa vào sử dụng được hoặc công trình đầu tư có liên quan thường bị dở dang, thậm chí không hoàn thành được.
Thứ ba, quản lý và giám sát đầu tư còn yếu kém làm thất thoát vốn đầu tư và chưa bảo đảm chất lượng và hiệu quả công trình như dự kiến; phân cấp quyết định và sử dụng vốn đầu tư chưa đi kèm với giám sát, kiểm soát chất lượng và hiệu quả đầu tư.
Thứ tư, đầu tư của nhiều DNNN còn kém hiệu quả là do còn được bao cấp một số nhân tố sản xuất, nhất là đất đai và trong một chừng mực nhất định là tín dụng; giá đất và giá tài sản cố định trong nhiều trường hợp chưa tính đúng và tính đủ; và do đó, chưa tính đúng tính đủ chi phí kinh doanh; DNNN hiện vẫn dựa nhiều vào vốn tín dụng và tài nguyên thiên nhiên để đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh. Hệ quả là đòn bẩy tài chính luôn cao và có thể còn gia tăng; không thể chủ động trong đầu tư phát triển; quản trị ở các DNNN còn yếu kém; quyền chủ sở hữu nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ, kém hiệu lực và ít hiệu quả.
Ðể nâng cao hiệu quả đầu tư công, trước hết phải khắc phục các nguyên nhân dẫn tới yếu kém nêu trên. Ðồng thời cần nâng cao năng lực quản lý đầu tư, hiệu lực và hiệu quả công tác giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư nhà nước; bố trí, cơ cấu lại đầu tư nhà nước, tăng thêm đầu tư cho y tế, đào tạo nghề, phát triển hệ thống an sinh xã hội; tăng đầu tư phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ nông sản. Ban hành tiêu chí thẩm định, lựa chọn dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án đầu tư; cơ chế phân bố vốn đầu tư nhà nước theo hướng đầu tư tập trung, chất lượng và hiệu quả. Căn cứ theo các tiêu chí đã ban hành, thực hiện rà soát, đánh giá lại tất cả các dự án (đang thực hiện hoặc trong quy hoạch); phân loại dự án theo thứ tự ưu tiên thực hiện, loại bỏ các dự án không còn đáp ứng các tiêu chí đặt ra. Ðổi mới quản trị và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN; hoàn thành chuyển đổi tất cả các DNNN sang công ty TNHH hoặc công ty cổ phần được quản trị và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp đến trước tháng 7-2010; bãi bỏ các đặc quyền và độc quyền có thể tạo ra sức ì và mang lại lợi ích cục bộ cho DNNN; công khai hóa và minh bạch hóa thông tin theo các chuẩn mực tối thiếu ngang bằng như các công ty niêm yết; thực thi có hiệu quả và hiệu lực quyền chủ sở hữu nhà nước; thiết lập thể chế thường xuyên giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNNN.
(Theo PGS,TS Nguyễn Ðình Tài - Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế T.Ư // Nhandan Online)
Theo đánh giá của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) thì con số DN niêm yết trên hai sàn chứng khoán VN hiện nay không hề nhỏ so với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, thị trường vẫn thiếu hàng, nhưng cái thiếu thực sự không phải là ở "lượng" mà ở những cổ phiếu đạt chất lượng cao.
Một thực tế đang xảy ra không ít trên thị trường là, có những vụ gian lận trong giao dịch mà các đối tượng tham gia có thể thu lợi lớn đến tiền tỉ, trong khi mức xử phạt với những hành vi này lại quá thấp, tối đa là 70 triệu đồng.
Hiếm có thời điểm nào mà tỷ giá giữa USD và VNĐ trên thị trường tự do lại thấp hơn tỷ giá giao dịch chính thức liên ngân hàng. Điều đáng nói là, trong tháng 4 qua, hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần.
Trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII sáng nay, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định Chính phủ kiên định các mục tiêu và chỉ tiêu Quốc hội đã đề ra, trong đó tăng trưởng kinh tế ở mức 6,5%.
Bất động sản (BĐS) là một lĩnh vực đầu tư đòi hỏi phải có một nguồn vốn vững mạnh, một kế hoạch tài chính dài hạn. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, bên cạnh nguồn vốn trung và dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn (vốn “nóng”), có thời hạn dưới 1 năm cũng đổ vào thị trường BĐS, tạo ra những cơn sốt nóng, “bong bóng” đầu cơ trên thị trường. “Giải mã” vấn đề vốn luôn là bài toán khó cho thị trường BĐS.
Ngày 13-5, Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng (GPMB) TP Hà Nội đã tổ chức hội nghị giao ban về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (TĐC) GPMB. Hội nghị đã dành nhiều thời gian cho việc triển khai giải pháp thực hiện GPMB trong thời gian tới, nhất là tại những dự án trọng điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tính đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần 180 tỷ USD vốn FDI và riêng trong 3 năm gần đây là 114 tỷ USD. Lượng vốn đăng ký tăng lên mạnh mẽ, nhưng đồng thời cũng phát sinh những bất cập cần sớm được khắc phục.
Vay tiền tiêu dùng không còn là khái niệm mới ở Việt Nam nhưng dịch vụ này vẫn ở dạng tiềm năng đối với hệ thống ngân hàng. Thực tế, nhiều người dân đã tìm tới ngân hàng để vay tiền tiêu dùng, nhưng lãi suất cao và sự biến động của lãi suất khiến họ phải chùn tay.
Vào những ngày trung tuần tháng 11 năm ngoái, một số phóng viên cố tiếp cận các quan chức có trách nhiệm của sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội để tìm hiểu về gói hỗ trợ khẩn cấp trị giá 500 triệu USD mà Việt Nam vừa nhận được từ chính phủ nước này để chống suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, họ đã không nhận được thông tin vì các quan chức này nói là không biết gì về khoản vay này.
Lãi suất cơ bản (LSCB) là một trong những mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. LSCB hiện nay đang là câu chuyện thời sự được quan tâm. Tại Diễn đàn “Áp lực lạm phát và chính sách tài chính - tiền tệ” do Báo Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức mới đây, ông Trần Quốc Quýnh - Hiệp hội Kinh doanh Vàng VN đã chia sẻ một số kinh nghiệm quốc tế.
Để đáp ứng yêu cầu tăng vốn điều lệ theo quy định của Chính phủ tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP, các ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng đang phải chạy đua với thời gian.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.