Có thể nói, đến nay, thời của một vài đại gia “tưới vốn” cho các ngân hàng con của mình, rồi “thổi” giá trên thị trường liên ngân hàng đã bị “phanh” lại.
Hành động siết chặt quản lý và lập lại trật tự trên thị trường liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước từ tháng 3/2010 đến nay là cần thiết.
Nhưng làm thế nào để không lãng phí nguồn lực ở các ngân hàng thương mại dư vốn và tránh hiện tượng “làm xiếc” là vấn đề mà Ngân hàng Nhà nước phải để mắt tới.
Không quản không được
Một vụ trưởng của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, nguồn vốn thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) là nguồn vốn ngắn hạn, các ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn này gần như chỉ vay qua đêm hay một tuần để đáp ứng nhu cầu thanh khoản nhanh trong thanh toán, chi trả cho đối tác hoặc Ngân hàng Nhà nước, đến khi dòng tiền về thì bù đắp trở lại.
Trong khi đó, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, nhiều năm gần đây, một số ngân hàng quy mô nhỏ đã lạm dụng quá mức nguồn vốn trên thị trường 2. Có những ngân hàng, cơ cấu vốn thị trường 2 lớn hơn vài lần so với vốn huy động từ dân cư và tổ chức (thị trường 1).
Có cầu ắt có cung. Thực tế này đã tạo ra sự lệch pha: những ngân hàng lớn, có năng lực quản trị tốt và khả năng huy động cao thì đầu tư quá mức trên thị trường 2; còn những ngân hàng nhỏ, mạng lưới hẹp, quản trị chưa tốt lại đi vay ngắn hạn trên thị trường 2 để kinh doanh. Họ vay thời gian ngắn, dưới 2 tháng nhưng lại cho vay tới 5 năm, thậm chí 5-10 năm.
Và đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho lãi suất thị trường liên ngân hàng những năm trước lên tới vài chục phần trăm, gấp đôi so với lãi suất thông thường. Thực tế này đã tạo ra sự lệch pha: kẻ có tiền, có kinh nghiệm thì không muốn làm, kẻ ít tiền, thiếu kinh nghiệm lại máu mê mở rộng kinh doanh. Đó là một thực tế đáng lo ngại đã và đang tồn tại lâu nay.
Điều nguy hiểm ở chỗ: do “bóc ngắn, cắn dài” nên khi bên cho vay đòi nợ, họ lâm vào thiếu thanh khoản và Ngân hàng Nhà nước phải căng sức ra để “chữa cháy”, nhất là vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm. Không ít trường hợp, Ngân hàng Nhà nước phải “bơm” thẳng vài ba nghìn tỷ đồng đến một vài ngân hàng để ứng cứu. Trong bối cảnh như vậy, Ngân hàng Nhà nước đã hành động theo khuynh hướng thanh tra những tổ chức tín dụng có lượng vốn huy động trên thị trường 2 lớn hơn 20% vốn huy động trên thị trường 1.
Ngân hàng Nhà nước cho rằng, sau hơn 5 tháng triển khai, đã thu được kết quả tích cực. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trước đây có tổng tín dụng lớn hơn tổng huy động từ nền kinh tế thì nay cán cân này đã không còn lệch pha; đồng thời họ cũng hạn chế đi vay trên thị trường liên ngân hàng và nhờ đó, họ yên tâm hơn về thanh khoản.
Khắc phục những khiếm khuyết
Có thể nói, đến nay, thời của một vài đại gia “tưới vốn” cho các ngân hàng con của mình, rồi “thổi” giá trên thị trường liên ngân hàng đã bị “phanh” lại. Nhưng điều này chưa đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước đã hoàn toàn kiểm soát được những lỗ hổng, cũng như tình trạng “lách luật” mà trước tiên là “cuộc chơi” lãi suất đang trong tay các ngân hàng nhỏ.
Để có thể vay được trên thị trường 2, không ít ngân hàng nhỏ sẵn sàng bằng mọi cách để mở rộng quy mô vốn trên thị trường 1. Thậm chí, lãnh đạo một ban của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) phản ánh rằng, có ngân hàng cổ phần cho một dàn nhân viên ăn mặc đồng phục chắn ngang trước cửa chi nhánh của BIDV mời chào: “Sang gửi bên tôi, có quà nọ, quà kia!”.
Thứ hai là vấn đề hệ số tạo tiền. Hiện tại, vốn khả dụng của nhiều ngân hàng tồn đọng khá lớn, trong đó có những ngân hàng trước đây chuyên cho vay trên liên ngân hàng, đã xử lý biến tướng đưa vốn từ thị trường 2 sang thị trường 1 qua một trung gian, có thể là tổ chức, thậm chí cả cá nhân. Hành vi này đẻ ra những hệ lụy không tốt mà đầu tiên là con số thống kê.
Ai cũng biết rằng, con số thống kê doanh số giao dịch và lãi suất trên thị trường 1 và 2 vô cùng có ý nghĩa đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc hoạch định chính sách và sử dụng các công cụ điều hành. Nhưng với hành vi nói trên, đã làm cho ranh giới giữa 2 thị trường này trở nên mờ nhạt và con số thống kê không còn chính xác.
Tiếp đó là vấn đề tạo tiền. Ví dụ, khách hàng gửi ngân hàng A 100 tỷ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10%, A được quyền sử dụng 90 tỷ. Nếu A cho một khách hàng X vay 90 tỷ và trong trường hợp X gửi ở ngân hàng B thì 90 tỷ đó, sẽ thành tiền gửi của B. Trong khi đó, trên bảng tài sản của A thì vế tài sản “Nợ” là 100 tỷ, còn vế tài sản “Có” nếu tính cả 10% dự trữ bắt buộc thì 100 tỷ đồng. Như vậy, nếu cộng cả 2 ngân hàng thì tổng tạo tiền là 190 tỷ.
Cứ như vậy, ngân hàng B (sau khi đã trừ dự trữ bắt buộc 10%) lại cho khách hàng Y vay 81 tỷ và Y lại đem gửi cho C, hệ số tạo tiền cứ thế tiếp diễn và làm cho tổng huy động vốn ở các ngân hàng thương mại lớn thêm. Như vậy, quá trình tạo tiền ở những trường hợp nói trên thay vì đi vào nền kinh tế để sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội thì lại đang nhuốm màu đối phó, tạo nên những tài khoản ảo ở các ngân hàng và làm sai lệch con số thống kê.
Xuất phát từ thực tế này, đã có một số ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nên nới “room 20%” thành 30% hay 40%, hoặc bằng cách nào đó để nguồn vốn dư thừa trên thị trường liên ngân hàng được khơi thông nhưng vẫn quản lý được sự lạm dụng thái quá nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng mới là điều cốt yếu.
Các ngân hàng (NH) xoay xở mọi cách để đối phó với thông tư 13 khiến mục tiêu giảm lãi suất (LS) huy động và cho vay ngày càng khó khăn hơn. Theo các NH, nếu chỉ trông vào đồng thuận thì mục tiêu giảm LS huy động còn 10%/năm và cho vay còn 12%/năm khó khả thi.
Chính phủ cũng phải có trách nhiệm thúc đẩy nền kinh tế, bởi ngân hàng trung ương không thể một mình xoay sở khi mà chính sách tài khóa đều bị thu hẹp.
Trao đổi với phóng viên, lãnh đạo nhiều doanh nghiệp tự tin vào kết quả kinh doanh của cả năm 2010 cũng như các năm tiếp theo, bởi theo quy luật thì những tháng cuối năm là “mùa làm ăn” của thị trường bất động sản.
Dự báo đến năm 2030, dân số toàn thành phố Hà Nội có khoảng 9,4 triệu người. Trong đó, thành thị khoảng 6,4 triệu người, nông thôn khoảng 3 triệu người, tỷ lệ đô thị hoá là 68,8%.
Vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm chi phí vận hành cho doanh nghiệp bằng những hành động đơn giản như dùng giấy in hai mặt hoặc giấy tái chế, sắp xếp chỗ ngồi trong phòng hợp lý để tiết kiệm điện…, đó là những lợi ích cơ bản mà mô hình văn phòng xanh đem lại.
Mặc dù cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu lên đến đỉnh điểm vào đầu năm nay, song các ngân hàng khu vực vẫn tiếp tục bơm tiền vào Hy Lạp và các nước khác vốn đang nợ "ngập đầu, ngập cổ".
Trước sự biến động mạnh của giá vàng trong thời gian gần đây, các NĐT kinh doanh vàng vật chất có xu hướng vay vàng của ngân hàng để kinh doanh, với kỳ vọng kiếm lợi nhuận cao.
Hàng loạt các dự án địa ốc với số vốn từ trăm triệu đến tỷ đôla được ra mắt từ tháng 8 đến nay. VnExpress.net điểm lại một số dự án đình đám nhất.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.