Ông Alex A MacBeath, Giám đốc toàn cầu phụ trách thị trường của Grant Thornton International - Ảnh: Mộng Bình
Cải thiện môi trường đầu tư, chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những vấn đề cấp thiết mà các cơ quan chức năng thảo luận trong thời gian gần đây.
Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong chuyến công tác đến Việt Nam, ông Alex A MacBeath, Giám đốc toàn cầu phụ trách thị trường của Grant Thornton International, khuyến nghị rằng các ngành chức năng nên theo chiến lược chú trọng vào sự ổn định của dòng vốn thay vì sự gia tăng về số lượng.
TBKTSG Online: Nhiều chuyên gia quốc tế nhận định rằng dòng vốn đầu tư vẫn đang đổ vào châu Á, đặc biệt là các thị trường đang phát triển và trong đó có Việt Nam. Nhưng trên thực tế, vốn FDI vào Việt Nam trong các năm gần đây có xu hướng giảm dần. Từ sự ghi nhận của mình, ông có lời giải thích nào cho vấn đề này?
- Ông Alex A MacBeath: Những dẫn chứng cụ thể đều cho thấy dòng vốn đầu tư vẫn đang chảy vào các thị trường mà nơi đó các nhà đầu tư tìm được cơ hội, nhìn thấy yếu tố ổn định và chắc chắn. Theo thông tin tôi có được thì hiện một lượng vốn lớn nhiều tỉ đô la Mỹ vẫn đang chờ các dự án tốt ở các nền kinh tế đang phát triển. Đây rõ ràng là cơ hội cho Việt Nam để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài nếu tạo được niềm tin trong giới đầu tư về môi trường kinh doanh, pháp lý ổn định và nền tảng phát triển của kinh tế đất nước.
Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực trong việc phát đi thông điệp thị trường này là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Bản thân tôi gần đây cũng đã nghe nhiều ý kiến, nhận xét tích cực về thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, tôi cho rằng thông điệp phải đi kèm với những dẫn chứng cụ thể, nhiều quốc gia khác đang chứng minh cho các nhà đầu tư nước ngoài những trường hợp đầu tư thành công tại đất nước họ. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, Việt Nam cũng cần phải có "câu chuyện" riêng của mình để thuyết phục nhà đầu tư tin rằng thị trường này có cơ hội và thật sự hấp dẫn, thật sự đáng để họ đổ tiền vào.
Trong các năm qua, các ngành chức năng liên tục tổ chức các cuộc hội nghị xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước nhưng kết quả thu hút FDI vẫn chưa như kỳ vọng. Phải chăng các nhà đầu tư vẫn còn thiếu niềm tin vào thị trường Việt Nam?
- Tôi nghĩ rằng khi đi đến quyết định, các nhà đầu tư đã có niềm tin và sẵn sàng chuẩn bị cho các rủi ro mà họ sẽ phải đối mặt. Tuy nhiêu, vấn đề quan trọng ở đây là họ cần được biết rõ những rủi ro này là gì và hiểu rõ lợi thế, cơ hội mà họ có được tại thị trường này.
Tôi không cho rằng dòng vốn FDI thật sự vào Việt Nam đang bị sụt giảm mà đang ở mức ổn định, cụ thể là lượng vốn giải ngân mỗi năm đạt khoảng 10- 11 tỉ đô la Mỹ hay nhiều hơn và xu hướng này sẽ tiếp tục được duy trì trong thời gian tới. Sự giảm sút trong việc thu hút vốn FDI, theo tôi biết, là vốn cam kết và sự sụt giảm này có nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân chính là một số nhà đầu tư từ Mỹ, khu vực Trung Đông… đã thông báo số vốn đầu tư lên đến 3-4 tỉ đô la Mỹ cho một số dự án bất động sản nhưng đã không rót vốn như cam kết. Hậu quả là đã có dự án rơi vào tình trạng chậm triểm khai, bị hủy bỏ.
Khi nói đến thu hút vốn FDI cũng phải tính luôn cả vốn đầu tư gián tiếp của các công ty nước ngoài thông qua việc mua cổ phần của các công ty trong nước. Số liệu mà chúng tôi ghi nhận được là đang có nhiều nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại các công ty Việt Nam bằng với mức của năm 2007 – thời điểm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, số vốn đầu tư này không được tính vào vốn FDI trực tiếp mà Việt Nam thu hút được. Tôi cho rằng đang có sự dịch chuyển từ nguồn vốn FDI sang vốn đầu tư gián tiếp của các công ty nước ngoài vào Việt Nam.
Đề cập đến vấn đề dịch chuyển vốn đầu tư, gần đây các chuyên gia cho rằng nhiều công ty đang chuyển cơ sở sản xuất của họ từ Trung Quốc và các thị trường khác ở châu Á sang Việt Nam để tận dụng chi phí lao động thấp hơn. Theo ông, làm thế nào để thay đổi quan điểm rằng Việt Nam chỉ hấp dẫn các dự án công nghệ không cao, chi phí lao động rẻ và gây ảnh hưởng đến môi trường?
- Việc thu hút nhiều dự án sản xuất mà không chú ý đến ảnh hưởng đối với môi trường thể hiện tầm nhìn ngắn hạn của nhà quản lý và sẽ dẫn đến nhiều rủi ro cho tương lai. Hiện nhiều quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến tác động đến môi trường của các dự án sản xuất. Điều quan trọng là Việt Nam cần đánh giá tác động môi trường của các dự án sản xuất trong chiến lược dài hạn, bởi những tác động này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước về lâu dài.
Việc kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam vào các thị trường trọng điểm, ví dụ như Mỹ, đang tăng cao ngay cả trong thời điểm khó khăn của nền kinh tế toàn cầu là một thông tin tốt. Tuy nhiên, các nhà sản xuất trong nước đừng chỉ trông chờ vào lợi thế của Việt Nam là nơi sản xuất có chi phí thấp mà cần hướng mục tiêu dài hạn là làm ra được các sản phẩm chất lượng, có giá trị gia tăng cao. Trong các năm qua, do kinh tế khó khăn, người tiêu dùng Mỹ đã tìm mua các sản phẩm với giá hợp lý nhưng khi kinh tế phục hồi thì họ sẽ quay lại với các sản phẩm chất lượng và có giá trị gia tăng cao. Do vậy, nhà sản xuất Việt Nam cần chuẩn bị để khai thác hiệu quả sự chuyển hướng nhu cầu tiêu dùng này.
Ông đánh giá thế nào về triển vọng kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh bị tác động nhiều hơn bởi suy thoái kinh tế toàn cầu và sự tăng trưởng chậm lại tại một số khu vực trên thế giới?
- Việt Nam sẽ nổi lên là một trong các quốc gia có sức mạnh về kinh tế sau Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Trước đây, khi nói đến các thị trường mới nổi thì người ta nghĩ ngay đến nhóm các quốc gia BRIC này. Bây giờ là thời kỳ của nhóm các quốc gia có ảnh hưởng về kinh tế sau nhóm BRIC gồm Việt Nam, Indonesia và Nam Phi.
Để tận dụng vị thế kể trên và thu hút được các dự án đầu tư như mong muốn thì Việt Nam cần thu hút thêm các công ty quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia lớn vì các dự án của các tập đoàn này sẽ góp phần tạo đà cho hoạt động hợp tác kinh tế, giao thương phát triển. Các tập đoàn đa quốc gia cần một môi trường đầu tư minh bạch, ổn định để họ có thể lên kế hoạch kinh doanh, đầu tư dài hạn. Bên cạnh đó, để thu hút được các dự án đầu tư tạo ra thêm các giá trị gia tăng thì cần phải có một chuỗi cung ứng, ngành công nghiệp phụ trợ mạnh để hỗ trợ cho các ngành khác cùng phát triển.
Ông nghĩ gì về khả năng thu hút các nguồn vốn cho các dự án phát triển hạ tầng tại Việt Nam, đặc biệt là các dự án được thực hiện theo hình thức hợp tác công-tư (PPP)?
- Tôi cho rằng ngoài yếu tố môi trường đầu tư ổn định, các nhà đầu tư chú ý đến các dự án PPP có kế hoạch, mục đích thực hiện rõ ràng. Điều này đã được minh chứng tại các thị trường có nhiều dự án PPP thực hiện thành công vì điều này sẽ giúp họ có được các kết quả tích cực tại các dự án mà họ tham gia.
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 10 đã có sự cải thiện rõ nét so với những tháng trước đó nhưng tính từ đầu năm đến ngày 20-10, Việt Nam mới thu hút được gần 11,3 tỉ đô la Mỹ, chỉ bằng 78% so với cùng kỳ năm ngoái và vẫn còn rất xa mục tiêu 20 tỉ đô la Mỹ. Tổng số vốn FDI giải ngân đạt khoảng 9,1 tỉ đô la Mỹ, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số môi trường kinh doanh sụt giảm và niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào triển vọng kinh tế không cao, kèm theo đó là sự bất ổn của kinh tế thế giới là những nguyên nhân được giới chuyên gia viện dẫn cho việc vốn FDI vào Việt Nam giảm sút.
----------------------------------------------------------------------------- Bình Nguyên thực hiện// Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn
8 NHTM niêm yết trên hai sàn đều đã công bố kết quả kinh doanh quý 3 và 9 tháng đầu năm 2011 của ngân hàng mẹ. Theo đó, duy nhất Habubank (HBB) có LNST giảm nhẹ 6% so với cùng kỳ 2010, còn lại các ngân hàng khác đều tăng trưởng mạnh, đặc biệt Eximbank (EIB) tăng trưởng 65%. Tổng nợ xấu của 8 NHTM niêm yết tính tại thời điểm 30/9/2011 lên tới gần 15.018 tỷ đồng. Trong đó nợ có khả năng mất vốn là 8.293 tỷ đồng. VCB có nợ xấu cao nhất 3,9%.
Việc NHNN cấp tập điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng khiến lo ngại biến động tỷ giá vượt ngoài tầm kiểm soát ngày càng lớn. Nguyên nhân dẫn đến việc một nền kinh tế bị đô la hóa xuất phát từ chính sách tiền tệ không tương thích trong một thời gian dài, thể hiện ở tỷ lệ lạm phát cao và biến động lớn, thường xuyên phá giá đồng nội tệ.
Xã hội đã và đang nhìn nhận về khu vực tín dụng phi chính thức theo hướng khá tiêu cực. Hiện tại các cơ quan chức năng cũng đã và đang ngăn chặn, xử lý các vụ việc dưới góc độ hình sự là chính. Việc nhìn nhận vấn đề này trên góc độ kinh tế, tài chính có thể gợi lên câu hỏi là “tín dụng đen” nên ngăn chặn bằng hình thức hình sự hay bằng các giải pháp chính sách kinh tế, tài chính ?
VinaCapital sẽ không đầu tư vào văn phòng hay căn hộ nữa. Các quỹ khác đang tìm những “miếng ngon” trong ngành thực phẩm, tiêu dùng. Chiến lược mới của các quỹ đang dần hé lộ.
Hàng loạt vụ lừa đảo thông qua huy động vốn với lãi suất cao đỗ vỡ. Những đổ vỡ này đã cho thấy những cảnh báo liên quan đến ngân hàng cũng như bất ổn đối với các thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản.
Triển vọng tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển và mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng, do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Một bên là người gửi tiền không am hiểu quan hệ tín dụng, không hiểu hoạt động của ngành ngân hàng, lại được khuyến khích bởi lợi ích trước mắt, lãi suất cao và một bên là nhu cầu vốn lớn nên hình thành thị trường vốn “chợ đen” rất nguy hiểm.
Tín dụng “đen” không phải là chuyện mới ở Việt Nam. Vỡ nợ cũng là những bài học cũ. Tuy nhiên, trong khoảng một tháng nay, liên tiếp các vụ đổ vỡ tín dụng cá nhân đã diễn ra - tập trung nhiều ở thị trường phía Bắc, nhỏ nhất cũng vài trăm tỉ đồng, lớn thì lên đến hàng ngàn tỉ đồng.
The Economist cho rằng các nước giàu sẽ đối mặt với kịch bản thứ ba: đình trệ kinh tế kiểu Nhật. Suy thoái có thể xảy ra thường xuyên hơn so với thập niên 1980 và 1990, và tỉ lệ tăng trưởng chung sẽ ì ạch. Một kết quả như vậy sẽ khiến cho các nước đã phát triển rất khó xử lý nợ công của họ; sẽ có thêm nhiều nước rơi vào bẫy nợ kiểu Nhật.
Trong thời gian qua, các ngân hàng đô thị hầu như có cùng chung hoạt động ngân hàng bán lẻ, không chuyên biệt lĩnh vực nào rõ rệt nên hoạt động của họ cạnh tranh nhau quyết liệt mà không hề có sự bổ sung hỗ trợ cho nhau.
Tín dụng “đen” không phải là chuyện mới ở Việt Nam. Vỡ nợ cũng là những bài học cũ. Tuy nhiên, trong khoảng một tháng nay, liên tiếp các vụ đổ vỡ tín dụng cá nhân đã diễn ra - tập trung nhiều ở thị trường phía Bắc, nhỏ nhất cũng vài trăm tỉ đồng, lớn thì lên đến hàng ngàn tỉ đồng.
Trái ngược với hàng chục ngàn hộ dân vì nhu cầu bức xúc về chỗ ở đã bỏ qua quy định, nhắm mắt chuyển nhượng đất chưa có “sổ đỏ” hoặc tự xây cất nhà ở trên đất nông nghiệp, đất đang có dự án quy hoạch... đang ngày đêm mong ngóng được cấp sổ đỏ chính danh cho tài sản của mình, hàng trăm hộ dân tại Tp.HCM đang xếp hàng đòi trả lại “sổ đỏ” chỉ vì lý do: không có tiền để nộp!
“Nói thật, dưới góc độ là doanh nghiệp, TKV hiện giờ cũng như đang ngồi trên đống lửa, vì số tiền mà chúng tôi đã bỏ vào hai dự án này là rất lớn”.
Con số 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở lần này là một cố gắng lớn của Chính phủ, song nếu chương trình triển khai hiệu quả thì cũng không loại trừ khả năng sẽ “bơm” thêm, thông tin được Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam đưa ra bên lề lễ ký hợp tác về việc triển khai gói hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng, sáng 15/5 giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Xây dựng.
Một số ngân hàng, trong nỗ lực bảo toàn lợi ích tài chính của mình, đã áp dụng nhiều chiêu mới để đòi nợ, có thể nói là khá thô lỗ. Nào là spam tin nhắn, gửi email, gửi thư hoặc gọi điện nhắc nợ và thậm chí hăm dọa đủ các kiểu.
"Với góc độ của người trực tiếp tìm hiểu, đàm phán dự án này, tôi cho rằng dự án nhà máy lọc hóa dầu của Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) là khả thi", Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Hồ Quốc Dũng khẳng định tại buổi tạo đàm trực tuyến về kinh nghiệm thu hút đầu tư của Bình Định, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức sáng 12/5.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.