Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng giữa VND với USD áp dụng từ ngày 18-8 vừa qua từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932 đồng/USD (tăng gần 2,1%), còn biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%. Tính cả hai đợt tăng tỷ giá từ đầu năm 2010, đến nay USD đã tăng 5,46% so với VND, trong khi ngưỡng an toàn là 6% (là mức chênh lệch giữa lãi suất USD và VND).
Tác động hai mặt
Về cơ bản và tổng thể, có thể khẳng định các đợt điều chỉnh tỷ giá của NHNN thời gian qua là cần thiết và đúng đắn, nhất là đợt điều chỉnh gần đây nhất.
Về thời điểm, sự điều chỉnh tỷ giá lần này diễn ra khi các sức ép lạm phát ở Việt Nam dường như đang được cải thiện, với mức tăng CPI trong ba tháng qua liên tiếp ở mức thấp, nhất là so với cảnh báo từ đầu năm; vì thế tác động của điều chỉnh tăng tỷ giá đối với gia tăng lạm phát được giảm thiểu.
Về mục tiêu, sự điều chỉnh này đã đồng thời cho phép đạt được nhiều đích ngắm cùng lúc, và mang lại nhiều lợi ích đa dạng:
Thứ nhất, trên thực tế, VND có sự gắn kết khá chặt với USD, mà những tháng gần đây đã có sự gia tăng đáng kể sức mạnh của USD trên thế giới, nhất là tăng tới trên dưới 20% so với đồng tiền chung châu Âu. Sự cố định tỷ giá VND với USD trong suốt gần nửa năm qua đã khiến VND bị định giá cao hơn USD. Nếu cộng dồn cả những đợt điều chỉnh tỷ giá và mức lạm phát so sánh hai nước trong ba năm qua, thì mức đắt đỏ thực tế của VND so với USD còn cao hơn nhiều, kèm theo những hệ quả nhiều mặt của nó, đặc biệt là sự nuôi dưỡng động lực nhập siêu và giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam. Nói cách khác, điều chỉnh tỷ giá không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, mà còn hạn chế nhập siêu, nhất là những sản phẩm trong nước có thể sản xuất thay thế.
Thứ hai, điều chỉnh tỷ giá lần này đã thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường tự do, tức giúp cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam do không phải gia tăng bán USD theo tỷ giá thấp, giảm bớt kỳ vọng đầu cơ và cả hoạt động buôn bán vốn và ngoại tệ lòng vòng kiếm lời dựa trên chênh lệch giữa hai tỷ giá.
Thứ ba, đồng thời, việc điều chỉnh tỷ giá sát hợp hơn với giá thị trường tự do cũng giúp cho các doanh nghiệp (DN) được tính đúng, tính đủ chi phí vốn ngoại tệ trong bảng hạch toán kinh doanh của mình, mà trước đó thường phải "hợp lý hóa" các khoản mua USD trên thị trường chợ tự do với giá cao hơn giá chính thức.
Thứ tư, việc điều chỉnh tỷ giá còn giúp các ngân hàng cải thiện nguồn vốn ngoại tệ và từ đó cải thiện tính thanh khoản ngoại tệ của mình, hạn chế xu hướng chênh lệch cao giữa mức tăng huy động và cho vay tín dụng bằng ngoại tệ (theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, tính đến cuối tháng 7-2010, huy động vốn bằng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng thương mại đã giảm khoảng 2,4% so với tháng 12-2009, trong khi tín dụng ngoại tệ tăng 34,4%). Ðiều này còn giúp tăng cường tập trung và quản lý kinh doanh ngoại tệ trên thị trường có tổ chức theo mục tiêu lựa chọn...
Ðương nhiên, sự điều chỉnh tỷ giá lần này cũng không tránh khỏi những hệ quả nhất định.
Ðiều chỉnh linh hoạt theo tín hiệu thị trường
Thực tế cho thấy, sự căng thẳng ngoại tệ trên thị trường tiền tệ trong nước thường tỷ lệ nghịch với độ chênh biệt cao và kéo dài của tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường tự do trong những thời điểm tương ứng. Sự mất cân bằng này càng lớn và kéo dài thì càng tích tụ nhiều hơn những hệ quả tiêu cực cộng dồn từ các thiệt hại do VND bị định giá cao và do "sốc tỷ giá" trong tương lai. Mặt khác, việc điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá VND, chẳng hạn so với USD lại có thể tạo nguy cơ bùng nổ tái lạm phát và thậm chí có thể xuất hiện tình trạng suy thoái - lạm phát gây mối nguy hiểm kép, tức vừa có lạm phát cao, vừa có sự đình trệ, thậm chí suy giảm mạnh quy mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, hết sức tiêu cực cho sự ổn định hệ thống tài chính - tiền tệ... Linh hoạt tỷ giá, hay thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, ngày càng trở thành phương châm điều hành phổ biến trong chính sách tỷ giá của hầu hết các nước trên thế giới trong bối cảnh hiện nay.
Linh hoạt tỷ giá không có nghĩa là thay đổi chóng mặt của tỷ giá chính thức theo các quyết định chủ quan có tính cơ hội hoặc vì lợi ích cục bộ nào đó; lại càng không có nghĩa là có thể biến động ngược chiều với các xu hướng tỷ giá chung của các đồng tiền chủ chốt trên thế giới. Linh hoạt có nghĩa là không nên chỉ có sự biến động tỷ giá tăng hoặc giảm theo một chiều, chỉ có lên hoặc chỉ có xuống, tạo ra những kỳ vọng đầu cơ cao; đồng thời, cũng không có nghĩa là phải ngay lập tức điều chỉnh tỷ giá theo đúng tốc độ tăng hay giảm của một hoặc một số đồng tiền dù là rất quan trọng nào đó trên thế giới. Sự linh hoạt của chính sách tỷ giá còn được thể hiện ở sự linh hoạt trong lựa chọn mục tiêu của chính sách tỷ giá. Không thể thỏa mãn cùng lúc nhiều mục tiêu cho chính sách tỷ giá ở cùng một thời điểm, nhưng cũng không thể kéo dài mãi một chính sách tỷ giá chỉ phục vụ cho một mục tiêu nhất định dù là quan trọng trong bối cảnh nào đó, bất chấp những điều kiện khách quan đã thay đổi. Linh hoạt tỷ giá còn bảo đảm phải có sự đồng bộ, tránh mâu thuẫn và sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các công cụ chính sách tài chính - tiền tệ, nhất là chính sách tỷ giá và lãi suất, cũng như giữa chính sách tỷ giá với công cụ tài chính khác. Ðồng thời, còn cần "căn" tỷ giá chính thức phụ thuộc vào độ "dày hay mỏng" của dự trữ quốc gia, vào các mục tiêu chính sách cơ bản và vào thực tế dòng tiền chảy trên thị trường, nhất là dòng ngoại tệ ra - vào qua biên giới. Cần lưu ý rằng, linh hoạt tỷ giá không hề mâu thuẫn với yêu cầu về tính minh bạch và có thể dự báo được của chính sách tỷ giá. Nói cách khác, xu hướng tỷ giá cần bám sát các động thái và tương quan tiền tệ và thị trường trong nước và quốc tế, tránh thị trường "chảy" theo một hướng, còn chính sách tỷ giá "lái" theo một nẻo, làm mất tính ổn định khách quan của chính sách tỷ giá, gây thêm những rủi ro chính sách cho các DN, đồng thời làm xấu môi trường và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trên tinh thần đó, trong thời gian tới, cần tiếp tục xu hướng điều hành linh hoạt tỷ giá theo các tín hiệu và nguyên tắc thị trường. Trong đó, lưu ý rằng, thực tế cho thấy cần tránh tín điều và kỳ vọng đầu cơ gắn với xu hướng chỉ có điều chỉnh tăng một chiều tỷ giá và tăng với giá sốc, biên độ hẹp sau khi neo cố định tỷ giá kéo dài. Nói cách khác, cần điều chỉnh tỷ giá có lên, có xuống, thời gian ngắn và nhanh hơn, với mức điều chỉnh thấp hơn và biên độ giao dịch có thể rộng hơn... nhằm bớt tạo sốc tỷ giá và những hệ lụy mặt trái của điều chỉnh tỷ giá hơn... Ðồng thời, Nhà nước cần tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát các hiện tượng đầu cơ hoặc tung tin đồn thất thiệt, tăng giá kiểu "té nước theo mưa" và giải tỏa các hành xử tự phát, tâm lý đám đông...
Bên cạnh đó, các DN cần có dự phòng tăng - giảm tỷ giá trong các hợp đồng kinh doanh và tín dụng của mình; tiếp cận và sử dụng linh hoạt các công cụ ngân hàng giúp giảm thiểu rủi ro tỷ giá, cải thiện quản trị, tiết giảm chi phí sản xuất, kinh doanh..
Ngay sau khi có Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1988), công nghiệp (CN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) phát triển khá nhanh, bởi các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về môi trường và chính sách đầu tư của Hà Nội. Các ngành CN mới của Hà Nội như cơ điện tử, lắp ráp sản phẩm CN giá trị lớn có được kết quả tăng trưởng cao như hiện nay là nhờ có sự tham gia của các doanh nghiệp (DN) CN vốn FDI.
Tính đến nay Nghị định 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Nhà ở ban hành ngày 23/6/2010 đã có hiệu lực thi hành gần một tháng. Nhưng tác động tích cực của nó vào thị trường bất động sản Hà Nội hầu như vẫn chưa xuất hiện…
Với kinh nghiệm, thương hiệu công ty mẹ - tập đoàn và các tổng công ty thành viên, Đại hội Đảng bộ Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị (HUD) xác định nhiệm vụ chính trị chủ yếu trong giai đoạn 2011-2015 là hoàn thành 12,5 triệu mét vuông sàn nhà ở tại các dự án khu đô thị mới ở các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có 10% diện tích là nhà ở xã hội.
Chỉ còn gần 40 ngày nữa, Hà Nội sẽ đón Đại lễ 1000 năm tuổi. Trên khắp Hà Nội nhiều công trình đang chạy đua tốc độ để kịp hoàn thành đón Đại lễ, hoặc ít ra cũng là hoàn thành một phần hạng mục, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Trung Quốc và các nền kinh tế khác trên toàn cầu nên tăng lãi suất cơ bản để ngăn chặn làn sóng lạm phát bùng nổ, nhà đầu tư huyền thoại Jim Rogers, Chủ tịch hãng Rogers Holdings, cho biết.
Từ một vụ kiện dân sự liên quan quyết định xử phạt và truy thu thuế của Chi cục Thuế quận 1 (TP Hồ Chí Minh), nhiều vấn đề liên quan cách tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động sản xuất, gia công các sản phẩm bằng vàng, bạc, đá quý đã bộc lộ...
Tại tọa đàm "Bối cảnh quốc tế sau khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh hưởng đến Việt Nam" tổ chức chiều 30/8, tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế trong nước và nước ngoài đã tập trung phân tích những tác động đa chiều của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Việt Nam.
Ngày 30/8, tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương và Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản đã làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh cùng hai tỉnh Đồng Nai và Bình Dương về công tác thu hút, thực trạng và hiệu quả các dự án có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn ODA của Nhật Bản trên địa bàn.
Theo nguồn tin, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa có một cuộc họp bàn về vấn đề tiền lương của tổng giám đốc trong các ngân hàng thương mại cổ phần.
Chiều hôm qua 31.8, Hiệp hội Bất động sản (BĐS) TP.HCM tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Thông tư quy định và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 71, do Bộ Xây dựng ban hành.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.