'Bỏ trần lãi suất huy động, thị trường tiền tệ có thể rối loạn' (PGS, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân//Lệ Chi ghi//Theo vnexpress)
Thị trường ngân hàng đang chờ đợi quyết định cuối cùng về khả năng dỡ trần lãi suất huy động để tăng cường khả năng hút vốn, tuy nhiên Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân cho rằng đây chưa phải thời điểm thích hợp.
Dưới đây là bài viết của PGS, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, Thành viên hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ của Chính phủ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP HCM.
Trong tình hình hiện nay, cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Một trong những thay đổi cần thiết tại thời điểm này là cơ chế điều hành. Thứ nhất về cơ chế cho vay, Ngân hàng Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc cho vay thỏa thuận đối với trung và dài hạn mà phải mở nút thắt cho vay ngắn hạn. Điều này sẽ hạn chế tối đa những biến tướng như việc ngân hàng tìm cách lách luật chuyển đổi những hợp đồng cho vay ngắn hạn thành cho vay dài hạn, làm cho thị trường bị méo mó, khó kiểm soát.
Trong thời gian tới, nếu Ngân hàng Nhà nước mở hoàn toàn cơ chế cho vay ngắn hạn sẽ giúp hài hòa lợi ích cả người vay lẫn ngân hàng. Các ngân hàng cũng sẽ không dám cạnh tranh đẩy lãi suất cho vay lên cao vì chẳng đơn vị nào muốn mất hết khách hàng. Việc thực hiện lãi suất cho vay theo thỏa thuận sẽ góp phần tạo ra một cơ chế lãi suất thích hợp với bối cảnh thực tế hiện nay, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn, đồng thời ngân hàng cũng có lãi.
Riêng với lãi suất huy động, tuyệt đối không được bỏ trần trong thời gian này. Bởi tình hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện nay chưa thực sự ổn định. Một số ngân hàng thương mại nhỏ vẫn sẵn sàng vi phạm các định chế pháp luật.
Mặt khác, còn rất nhiều nhà băng nhỏ đang thiếu thanh khoản, đang tìm cách lách luật trong việc sử dụng nguồn vốn huy động bổ sung vào vốn điều lệ để đáp ứng con số 3.000 tỷ đồng theo quy định của Nhà nước... Không chỉ thế, những ngân hàng nhỏ một mặt huy động vốn với lãi suất cao, tìm cách bổ sung vào vốn điều lệ, mặt khác để duy trì lợi nhuận buộc họ phải đẩy mạnh cho vay những dự án phiêu lưu mạo hiểm như bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng... với lãi suất cao 19%, thậm chí 20%. Rủi ro mất trắng rất cao và nguy cơ phá sản sẽ khó tránh khỏi.
Standard Chartered dự đoán Việt Nam lạm phát 8,9% (Thành Trung// theo Thời báo kinh tế Sài Gòn)
Bộ phận nghiên cứu Đông Nam Á thuộc ngân hàng Standard Chartered (SCB) vừa đưa ra dự báo tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2010 sẽ ở mức 8,9%.
Kinh tế gia Tai Hui, Trưởng bộ phận nghiên cứu của SCB, khu vực Đông Nam Á, phân tích trong báo cáo mới công bố rằng giá các mặt hàng thực phẩm, nhà đất, và chi phí giao thông vận tải tăng là những nguyên nhân khiến cho lạm phát ở Việt Nam tăng cao.
So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ lạm phát trong tháng 12-2009 và 1-2010 đã trở lại trên mức 7%. Đáng ngại hơn, theo ông Tai Hui, đây là lần đầu tiên kể từ giữa năm 2008, mức lạm phát hàng tháng đã tăng trên 1% trong hai tháng liên tiếp.
Theo dự báo của nhóm nghiên cứu SCB, đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong những tháng tiếp theo của năm nay, và giao dịch dự tính sẽ ở mức 20.600 đồng/đô la Mỹ vào cuối năm bởi nguy cơ thâm hụt thương mại vẫn còn lớn, kết hợp với áp lực lạm phát mà nền kinh tế đang phải đối mặt.
Ông Tai Hui cũng khuyến cáo, việc tăng lãi suất và giảm tính thanh khoản là những cách tốt nhất để giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại và lạm phát gia tăng.
Cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, vốn hiện nay hoàn toàn không thiếu mà thị trường chỉ thực sự khát vốn lãi suất thấp. Với các nguồn vốn vay lãi suất cao 17-18% thì doanh nghiệp cần bao nhiêu cũng có.
Chính sách tiền tệ phải phụ thuộc rất lớn vào thể trạng của từng hệ thống ngân hàng thương mại. Ngay cả ngân hàng Trung Quốc, đến nay họ vẫn duy trì trần lãi suất huy động để tránh tình trạng cạnh tranh vô tội vạ muốn hút vốn của các ngân hàng với nhau.
Do đó, nếu Ngân hàng Nhà nước dỡ trần lãi suất huy động trong thời điểm này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ chạy đua lãi suất huy động, có thể lên tới 14 - 15%..., khiến các "ông lớn" lớn đang duy trì lãi suất tiền gửi ổn định vì không muốn mất khách hàng sẽ lao vào cuộc đua. Ngược lại, nếu không đua sẽ bị khan vốn và buộc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm vốn vào. Như vậy, vô hình trung sẽ thổi bùng ngọn lửa lạm phát và gây ra sự hỗn loạn cho hệ thống tiền tệ. Và kịch bản tồi tệ của năm 2008 có thể lặp lại, khi đó lãi suất cho vay bị đẩy lên cao kỷ lục 21-22% một năm khiến doanh nghiệp điêu đứng và trở thành chủ đề tranh luận gay gắt trên diễn đàn Quốc hội.
Tất cả những vấn đề trên bắt buộc Ngân hàng Nhà nước không thể bỏ trần lãi suất huy động ngay thời gian này. Tuy nhiên, cũng không thể duy trì mức trần lãi suất thấp 10,5 % như hiện nay sẽ không phù hợp với mặt bằng giá cả, không phù hợp với tình hình về lạm phát và thực tế tiền tệ của Việt Nam.
Do vậy, việc nới biên độ trần lãi suất phải được điều chỉnh ngay. Mức trần được coi là hợp lý nhất hiện nay sẽ là 12%. Với mức này, các ngân hàng không chỉ đảm bảo huy động được nguồn vốn mà cho vay với mức hợp lý 15 - 16% vẫn có lãi, trong khi doanh nghiệp cũng có thể chấp nhận được. Đây chính là bài toán dung hòa lợi ích của người gửi tiền, người vay tiền cũng như trung gian cho vay tài chính
Một khi trần huy động được nâng lên 12% một năm, điều này có nghĩa "nhà băng mẹ" sẵn sàng bơm vốn cho các ngân hàng thương mại ở mức này nếu bị thiếu thanh khoản, Vậy thì các nhà băng cũng không dại gì phải đẩy vốn huy động vượt quá mức đó. Lúc này, trần huy động còn có vai trò giúp các ngân hàng xây dựng mức lãi suất hợp lý.
Nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay mức lãi suất cao là vì nhu cầu của thị trường cao. Hơn nữa, việc xác lập mặt bằng lãi suất cao sẽ giúp loại bỏ những dự án vay không hiệu quả, đồng thời tăng nguồn vốn cho những dự án kinh doanh sản xuất hiệu quả. Điều này khó xảy ra. Một ví dụ cụ thể, nếu một dự án được cho là hiệu quả nhưng mức sinh lời chỉ 18%, doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận mức lãi suất dưới 18%, trong khi dự án khác sinh lời 20% (nhưng độ rủi ro cao hơn) thì mức lãi suất họ chịu đựng được có thể là 18%, 19%. Tất nhiên ngân hàng sẽ cho vay đối với dự án chịu lãi suất cao hơn.
Trong thời gian tới, Ngân hàng Trung ương cần tiếp tục điều chỉnh mức trần này theo tín hiệu của thị trường và mức độ kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Cần lưu ý là trần huy động sẽ không duy trì mãi mà sẽ được dỡ bỏ khi các ngân hàng thương mại đã được cũng cố, có dấu hiệu hoạt động lành mạnh, cạnh tranh công bằng, đúng theo quy định của pháp luật. Các ngân hàng đã đáp ứng đúng nguồn vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng. Và như vậy, ít nhất phải 3 tháng nữa mới có thể sắp xếp lại trật tự của hệ thống ngân hàng. Sau đó, tùy vào dấu hiệu ổn định của thị trường và quyết định dở trần lãi suất huy động cũng chưa muộn.
Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước cũng nên nhanh chóng thay đổi cơ chế lãi suất phù hợp với cả hai luật: Ngân hàng và Dân sự chứ không phải chờ đợi sửa đổi một trong hai luật trên. Đồng thời phải tiến hành thanh tra, giám sát, đưa ra kế hoạch sát nhập các các ngân hàng không đủ vốn điều lệ theo pháp định, ổn định chính sách tỷ giá để tạo niềm tin vào giá trị đồng tiền...
'Chống cho vay nặng lãi là cần thiết' ( Tác giả: Hồ Sỹ Thụy // vnexpress )
"Nếu dỡ bỏ trần, lãi suất ngân hàng cũng chỉ dâng cao tới một mức nào đó rồi dừng lại và đi xuống. Nhưng để đến lúc đó, nền kinh tế đã lĩnh đủ hậu quả mà lãi suất cao gây ra".
Quan điểm trên được chuyên gia tài chính ngân hàng Hồ Sỹ Thụy nêu trong bài viết gửi tới VnExpress. Dưới đây là nội dung bài viết của ông.
Ngân hàng và người vay vốn đang chờ đợi bước đi tiếp theo trong điều hành chính sách lãi suất, sau khi Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng cơ chế lãi suất thỏa thuận với khoản vay trung dài hạn.
Theo quy định tại điều 476 Bộ Luật Dân sự, lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Quy định này thực ra không nhằm áp đặt chế độ trần lãi suất đối với các tổ chức tín dụng, mà đưa ra mốc lãi suất để chống cho vay nặng lãi. Nghị quyết số 23 do Quốc hội ban hành 6/11/2008 mở ra cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với một số dự án sản suất - kinh doanh hiệu quả cao. Phần lớn các khoản vay khác vẫn phải chấp hành chế độ trần lãi suất.
Chế độ trần lãi suất đã có tác dụng tích cực đối với kinh tế-xã hội thời gian qua. Vấn đề hiện nay là có cần thiết phải tiếp tục khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng bằng chế độ trần lãi suất, hay thay bằng việc mở rộng hơn nữa phạm vi cho vay vượt trần lãi suất rồi trở lại tự do hoá hoàn toàn lãi suất?
Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành không ràng buộc tỷ lệ giữa lãi suất cho vay của ngân hàng và lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Hơn nữa, các tổ chức tín dụng quan tâm nhiều hơn tới việc điều hành các công cụ như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc... Vì vậy, để có chế độ tự do hoá trên thực tế (mặc dù về hình thức vẫn còn chế độ trần) đối với lãi suất của các tổ chức tín dụng, không cần sửa đổi điều 476 nêu trên cũng như Luật Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản.
Ngân hàng Nhà nước chỉ cần ấn định lãi suất suất cơ bản ở mức đủ lớn, có thể là tương đương mức trung bình hoặc trung bình tiên tiến của các mức lãi suất cho vay ở kỳ trước của hệ thống ngân hàng. Làm như vậy, ngoài việc tạo ra (trên thực tế) chế tự do lãi suất đối với các tổ chức tín dụng, còn làm cho lãi suất cơ bản vừa là cái mốc chống cho vay nặng lãi vừa có ý nghĩa thống kê, phản ánh cung cầu vốn trên thị trường.
Lãi suất thỏa thuận tiện cho ngân hàng, song có thể đẩy khách hàng vào thế khó. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Tất nhiên, nếu không còn mức trần, lãi suất cho vay cũng chỉ cao đến mức nào đó thì dừng, rồi sau đó tự động hạ xuống. Song đến khi đó nền kinh tế đã lĩnh đủ hậu quả mà lãi suất cao gây ra.
Theo báo cáo về tình hình lãi suất tuần 5–11/3 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay trung, dài hạn theo cơ chế thỏa thuận khoảng 14-15%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khoảng 15-17%/năm đối với nhóm cổ phần, cá biệt một số ngân hàng quy mô nhỏ cho vay với lãi suất khá cao khoảng 18-20%/năm. So với báo cáo tuần trước đó, lãi suất cho vay thỏa thuận vẫn đang có chiều hướng tăng chứ chưa phải đã dừng lại.
72% doanh nghiệp tư nhân căng thẳng vì vốn (L.N. // Theo Báo Tuổi Trẻ )
Công ty Grant Thornton Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát báo cáo kinh doanh (IBR) thực hiện trên 7.400 nhà lãnh đạo doanh nghiệp thuộc 36 nền kinh tế trên thế giới. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp ngày càng căng thẳng tinh thần hơn (stress) hơn qua các năm.
Tại VN, 72% lãnh đạo các doanh nghiệp tư nhân được phỏng vấn đã trả lời: mức độ stress của họ có dấu hiệu tăng dần qua các năm. Tỉ lệ này cao hơn nhiều nước khác như Hi Lạp (68%), Phần Lan (33%)... và chỉ thấp hơn Trung Quốc (76%), Mexico (74%).
Theo đó, có bốn yếu tố chính gây nên mức độ căng thẳng cao tại VN: tình hình biến động kinh tế, khối lượng công việc, mức độ cạnh tranh trên thị trường và áp lực về dòng tiền mặt cung ứng.
Điều này cũng được các chủ doanh nghiệp tư nhân trên thế giới và VN thừa nhận khi 38% ý kiến cho rằng căng thẳng là do tình hình suy thoái kinh tế trong năm 2009; 26% khẳng định họ căng thẳng vì dòng tiền mặt cung ứng, 21% vì mức độ cạnh tranh và 19% vì áp lực khối lượng công việc.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy những người bị stress là những người có số ngày nghỉ mỗi năm thuộc loại trung bình hoặc rất thấp. Tại VN số ngày nghỉ chỉ là bảy ngày/năm.
Nếu tự do hoá hoàn toàn lãi suất lúc này, vấn đề không phải chỉ ở chỗ lãi suất cho vay dừng lại hay không, mà còn e ngại rằng mức 18-20% sẽ trở thành lãi suất phổ biến của các tổ chức tín dụng. Và nếu các tổ chức tín dụng thả phanh nâng lãi suất tiền gửi thì chỉ người gửi tiền là có lợi, nhưng doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ chịu thiệt. Bản thân các tổ chức tín dụng chưa hẳn đã thu nhiều mà có thể phải đối mặt với rủi ro lớn hơn.
Nếu các điều kiện khác không đổi, mỗi đơn vị phần trăm cộng vào hay trừ đi trong lãi suất vốn vay sẽ làm trừ đi hay cộng vào trong tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (hay của dự án đầu tư) một con số phần trăm bằng tỷ lệ giữa vốn vay so với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (hay của dự án đầu tư). Chẳng hạn, nếu tỷ lệ vốn vay tổ chức tín dụng trên vốn chủ sở hữu là 3/1, thay vì vay với lãi suất trần 12%/năm, các doanh nghiệp, dự án đầu tư phải vay với lãi suất thoả thuận 18% sẽ làm mất đi một tỷ suất lợi nhuận = [(18%-12%) x 3/1] và nếu phải vay với lãi suất thoả thuận 20%/năm sẽ mất đi một tỷ suất lợi nhuận là 24% mỗi năm.
Bởi vậy, có thể đang từ việc đạt được mức tỷ suất lợi nhuận trung bình, doanh nghiệp, dự án đầu tư trở thành lỗ. Có nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư có tỷ lệ vốn vay tổ chức tín dụng trên vốn chủ sở hữu lớn.
Việc song hành hai chế độ lãi suất cho vay theo trần và vượt trần, thực tế đã chứng tỏ mặt trái của nó, đó là các hành vi lách luật hay các hành vi tiêu cực cùng với mức lãi suất cho vay có khi cao tới 18%-20%, thậm chí có thể còn hơn. Khi phạm vi được phép cho vay vượt trần còn hẹp, các hành vi lách luật hay tiêu cực cũng ở phạm vi hẹp, tác động tiêu cực đối với nền kinh tế còn ít, nhưng sẽ tăng lên theo sự mở rộng phạm vi được phép cho vay vượt trần lãi suất. Hiện nay, thị phần được phép cho vay vượt trần lãi suất chỉ chiếm khoảng 40%, bao gồm phần cho vay phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay trung-dài hạn sản xuất-kinh doanh.
Nếu tiếp tục mở rộng thêm phạm vi được phép cho vay vượt trần lãi suất ra các khoản cho vay ngắn hạn sản xuất-kinh doanh có hiệu quả thì coi như lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đã được tự do hoá. Trong đó, cho vay ngắn hạn sản xuất -kinh doanh không có hiệu quả, do chỉ còn mình nó là vẫn thực hiện chế độ trần lãi suất, trở thành như cho vay “đối tượng chính sách”. Điều này khó tránh khỏi phát sinh các tiêu cực mới.
Lãi suất cho vay ở đầu ra của các tổ chức tín dụng được tự do vượt trần, còn lãi suất tiền gửi ở đầu vào bị khống chế thì trước hết làm lợi cho các tổ chức tín dụng. Vì là hoạt động kinh doanh với mục đích lợi nhuận, các ngân hàng thương mại dễ theo đuổi việc tối đa hoá tỷ suất lợi nhuận. Nếu Ngân hàng Nhà nước khống chế lãi suất tiền gửi một cách hiệu quả bằng biện pháp hành chính thì tại sao Ngân hàng Nhà nước không thể kiểm soát đối với cả lãi suất cho vay?
Tất nhiên, giải pháp nào cũng có mặt trái, chỉ ít hay nhiều, đánh đổi được hay không đánh đổi được. Tiếp tục thực hiện kiểm soát bằng biện pháp hành chính hay thực hiện tự do hoá đối với lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đang là sự lựa chọn mà Quốc hội đã trao quyền cho Ngân hàng Nhà nước. Chắc sớm muộn sẽ rõ. Song nếu không đảm bảo đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2010 và tạo đà cho tăng trưởng kinh tế những năm tiếp theo thì không thể nói đến sự thành công trong điều hành chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng và doanh nghiệp đều kêu 'khó'... vốn: Tiền đổ vào đâu? (Khánh Huyền // Theo Tiền Phong )
Dù lãi suất huy động thực ghi trên sổ tiết kiệm đều là 10,495%/năm và tính cả thưởng lãi suất đã lên tới 13 - 14%/năm nhưng dòng vốn vẫn chưa chảy mạnh. Tiền đang đổ vào đâu?
Tiền trong dân: Còn nhiều?
Ngày 16-3, ông Nguyễn Thanh Toại - Phó Tổng Giám đốc ACB cho rằng: nguồn tiền gửi trong dân hiện còn rất nhiều. “Theo phán đoán của chúng tôi, trước những biến động kinh tế thế giới, tác động lạm phát, có thể người ta đang “thế thủ”, cũng có thể họ để bằng vàng, USD hay tiền mặt và đang chờ nghe ngóng xem nên chọn hướng đầu tư nào”- Ông Toại nói.
Tiền gửi của các tổ chức thì sao? Một đại diện Bộ Tài chính từng phụ trách theo dõi lĩnh vực ngân hàng nhận xét: thông thường, hoạt động tiền gửi của các tổ chức ở mỗi giai đoạn có một tỷ lệ khác nhau và có đặc điểm thay đổi theo từng thời kỳ.
Ví như nếu chưa đến thời kỳ giải ngân, họ có thể gửi dài hạn nhưng đến thời kỳ giải ngân, mà thường các doanh nghiệp tập trung tăng đầu tư từ đầu năm, họ sẽ “đảo” sang ngắn hạn. Cho nên, hiện tại khó có thể trông chờ hoàn toàn vào luồng tiền này.
Cùng ngày, trao đổi với Tiền Phong, TS Tô Kim Ngọc - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng nhận xét: Luồng vốn đổ vào ngân hàng hiện không còn dễ như trước đây bởi đã bị chia sẻ thị phần (vàng, chứng khoán, USD, bất động sản).
Phải làm gì để dòng tiền chảy vào ngân hàng? TS Tô Kim Ngọc phân tích: “Lãi suất hiện nay lên tới sát 10,5% nếu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) điều chỉnh lại tỷ trọng, lạm phát có thể cao hơn. Hiện có một thực tế là mặt bằng lãi suất nội tệ đang đứng trước sức ép phải tăng lên nữa (không chỉ từ CPI mà còn cả tác động từ lãi suất thỏa thuận, tỷ giá..). Như vậy, hiển nhiên lãi suất huy động sẽ phải tăng lên mới có thể thuyết phục người dân có tiền đem vào gửi.
Cơ hội “thanh lọc” doanh nghiệp yếu?
Tại cuộc gặp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ngày 10-3, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ sao cho tỷ giá ổn định và mặt bằng lãi suất giảm; đáp ứng cả mục tiêu kiềm chế lạm phát năm 2010 dưới 7%.
Ông Trần Anh Vương, Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc Cty TNHH Thép Bắc Việt nhận xét: đây là tin vui với doanh nghiệp nhưng hiện tại, lãi suất chưa nhìn thấy cơ hội giảm.
Với hạn mức tín dụng của Cty lên tới 600 tỷ đồng/năm và bình quân luôn phải lo khoảng 20 triệu USD nhập khẩu nguyên liệu thép, theo ông Vương, năm nay khoản lãi tiền vay của Cty chắc chắn sẽ chiếm một tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm và “ăn” vào lợi nhuận.
Trước việc nhiều doanh nghiệp đang kêu lãi cao, khó vay với lãi suất cho vay thỏa thuận hiện xấp xỉ 18-19%/năm, lãnh đạo các ngân hàng phân trần: trong kinh doanh tín dụng, lãi suất đầu ra phải bằng trừ lãi suất đầu vào, cộng các chi phí khác và một tỷ lệ lợi nhuận.
Theo Phó Tổng giám đốc phụ trách kinh doanh một NHTMCP, không phải bất cứ doanh nghiệp nào chấp nhận lãi cao đều được vay. “Khách mà đã vay bằng mọi giá tức là có thể họ đang gặp vấn đề về quản trị cũng như khả năng trả nợ”- Ông bật mí.
Về quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng trong thời điểm hiện tại, TS Tô Kim Ngọc cho rằng: “Tình trạng phụ thuộc vào vốn vay (doanh nghiệp) và vốn huy động (ngân hàng) ở nước ta khá phổ biến. Thế nên khi mặt bằng lãi suất biến động, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều dễ tổn thương. Nhưng như thế, các ngân hàng sẽ phân loại doanh nghiệp hơn. Và chỉ những doanh nghiệp lành mạnh, có hướng kinh doanh tốt trong điều kiện này mới vay được.
Trao đổi với Tiền Phong, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cho rằng sau hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, trong năm 2010 này, chắc chắn sẽ có một bộ phận doanh nghiệp tiếp tục bị thanh lọc và thường là các doanh nghiệp yếu.
Có nhiều dẫn chứng thuyết phục cho thấy chính việc châu Âu nhiều lần làm ngơ trước các hành xử vô nguyên tắc của thành viên khiến Hy Lạp ra nông nổi ngày nay.
Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành thị trường đầu tư bất động sản lớn nhất thế giới vào năm ngoái, và chắc chắn sẽ vẫn giữ vị trí dẫn đầu trong năm nay nhờ vào tăng trưởng kinh tế, theo Cushman & Wakefield LLP - công ty tư vấn bất động sản thương mại tư nhân lớn nhất thế giới.
Ngành kinh doanh vàng ở VN làm ăn khá phát đạt trong những năm gần đây, nhu cầu làm đẹp của người dân cũng ngày một tăng… nhưng ngành chế tác, sản xuất vàng nữ trang dường như vẫn chưa có bước phát triển tương xứng và đang bị vàng nữ trang của nước ngoài lấn át.
Ra đời rầm rộ và lặng lẽ thoái lui là hình ảnh của nhiều sàn vàng hiện nay. Bên cạnh các sàn đóng cửa, nhiều sàn cũng chật vật tìm đường khác để đi dù là khá khó khăn.
Các đơn vị tổ chức sàn vàng đang rốt ráo chuẩn bị cho việc đóng cửa sàn vàng sau ngày 30/3/2010 theo Quyết định 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/1/2006 của Ngân hàng Nhà nước.
Thị trường ngân hàng đang chờ đợi quyết định cuối cùng về khả năng dỡ trần lãi suất huy động để tăng cường khả năng hút vốn, tuy nhiên Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân cho rằng đây chưa phải thời điểm thích hợp.
Mặc dù nền kinh tế thế giới và trong nước đã lạc quan hơn, nhưng các ngân hàng không cảm thấy “dễ thở” trước sức ép lợi nhuận và áp lực tăng vốn trong năm nay.
Mặc dù được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) bật đèn xanh, nhưng dường như các công ty chứng khoán vẫn đứng ngoài cuộc chơi thâu tóm và sáp nhập.
Trong năm 2009, nhiều “gói kích thích kinh tế” (economic stimulus package), được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới để giúp nền kinh tế khỏi rơi vào suy thoái nặng nề do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong khi Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ các tham vọng đầu tư vào các yếu tố tạo ra sức cạnh tranh dài hạn trong các gói kích cầu, Việt Nam lại không đặt ra mục tiêu dài hạn rõ ràng ...
Không có yếu tố bất ngờ từ biên bản họp bàn về chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang FED vào ngày hôm qua, song thị trường ngoại hối đã trải qua 1 ngày đầy biến động với sự giảm giá của đồng USD so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thị trường.
Trong bối cảnh gia tăng các nỗi lo về nợ công, tình trạng giá đồng EUR và đồng Bảng tăng lên mức cao kỷ lục, tính đảo ngược của giá vàng sẽ được thấy rõ khi đồng USD tăng lên, đây cũng là dấu mốc cho thấy sức hấp dẫn của vàng đang được tăng cường.
Nói về một Trung Quốc trong thập kỷ mới, đừng lầm tưởng rằng chỉ cần một điều vĩ đại duy nhất là có thể tạo nên tương lai cho đất nước này. Thay vào đó, các bạn hãy chú ý tới 4 yếu tố quan trọng tương tác với nhau để tạo nên một quốc gia hùng mạnh như ngày nay.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.