Ông Phạm Thế Anh: “Ngân hàng Nhà nước chỉ nên giữ vai trò cung cấp thông tin, giám sát và phối hợp hành động giữa các bên, chứ Ngân hàng Nhà nước không thể là người cung cấp nguồn lực tài chính duy nhất để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng” - Ảnh minh họa.
“Nếu chỉ Ngân hàng Nhà nước đứng ra xử lý với nội bộ ngân hàng, rất có thể sẽ xảy ra trường hợp ‘thiên vị’ giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp kia”, đó là chia sẻ của ông Phạm Thế Anh, quyền Viện trưởng Viện Chính sách công & Quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, khi nói về vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc vận hành công ty mua bán nợ xấu quốc gia.
Ông nói:
- Hiện tại, tổng dư nợ tín dụng trong hệ thống ngân hàng vào khoảng 2,7 triệu tỷ đồng, để xác định chính xác nợ xấu là bao nhiêu cần có sự phân biệt rõ ràng giữa các khoản nợ xem trong đó có bao nhiêu % nợ thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, bao nhiêu % còn lại thuộc nhóm 4 và nhóm 5. Để phân loại nợ chính xác nên phân theo nợ quá hạn và phân nợ theo mức độ nghiêm trọng của từng khoản nợ.
Bên cạnh đó, cũng cần phải xem khoản nợ xấu đó có tài sản thế chấp hay không, nếu có tài sản thế chấp thì việc xử lý sẽ đơn giản hơn. Tuy nhiên, với các khoản nợ có tài sản thế chấp thì cần thực hiện bước nữa là định giá các tài sản thế chấp đó để xác định xem giá trị của tài sản đó còn bao nhiêu % so với khoản nợ đó, từ đó mới đưa ra phương hướng xử lý hiệu quả nhất.
Sau khi phân loại nợ xấu theo các tiêu chí khác nhau, bước tiếp theo cần phân biệt là doanh nghiệp nhà nước chiếm bao nhiêu %, doanh nghiệp tư nhân chiếm bao nhiêu % trong tổng nợ xấu hiện nay. Cũng cần xây dựng các tiêu chí phân loại quy mô của các khoản nợ xấu để có hình thức xử lý phù hợp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, dĩ nhiên việc xử lý nợ xấu sẽ dễ dàng hơn, vì đây dù sao cũng là tài sản của Nhà nước. Do đó, Bộ Tài chính có thể nhanh chóng chủ động xử lý các khoản nợ xấu này.
Còn đối với doanh nghiệp tư nhân, bài toán xử lý nợ xấu sẽ phải khác hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, bất kể là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, việc xử lý nợ xấu phải đảm bảo minh bạch thông tin và không để các nhóm lợi ích chi phối.
Thời gian qua, chúng ta đang nói nhiều đến đề xuất của Ngân hàng Nhà nước về việc thành lập công ty mua bán nợ xấu, có tổng vốn ban đầu khoảng 100.000 tỷ đồng. Tôi hoàn toàn đồng tình với chủ trương thành lập một công ty mua bán nợ xấu như đề xuất của Ngân hàng Nhà nước nhưng câu hỏi đặt ra là: tiền ở đâu, giám sát như thế nào, thực hiện ra làm sao...?
Ngân hàng Nhà nước không thể bỏ 100.000 tỷ đồng ra để giải quyết nợ xấu mà không giải trình rõ nguồn tiền đó lấy từ đâu. Bởi nguồn thu của Ngân hàng Nhà nước chủ yếu là từ dự trữ bắt buộc và kinh doanh tiền tệ và nguồn thu này cần dùng để điều tiết thị trường. Chúng ta cần tuyệt đối tránh in tiền để cứu nợ xấu. Bởi vì in tiền như thế thì đang san sẻ gánh nặng nợ cho người dân. Nếu xử lý không tốt mà khoản tiền này bị mất thì tự nhiên người dân phải gánh chịu toàn bộ những khoản nợ xấu đó.
Chủ trương thì đúng nhưng bước đi cụ thể như thế nào để hiệu quả cao nhất là điều cần minh bạch. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước để giải quyết bài toàn nợ xấu hiện nay là chậm chạp khó khả thi.
Hơn nữa, khi nợ xấu của hệ thống ngân hàng mà chỉ có mình Ngân hàng Nhà nước tham gia xử lý tôi e rằng thông tin sẽ không được minh bạch và quá trình định giá các khoản nợ xấu sẽ không được chính xác.
Bên cạnh đó, rất có thể sẽ xảy ra tình trạng chỉ cứu các doanh nghiệp nhà nước, còn doanh nghiệp tư nhân thì việc giải cứu sẽ không được chú trọng. Do đó, khi triển khai mua nợ xấu cần có sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời kèm theo đó là cổ phần hoá hoặc bán đứt doanh nghiệp nhà nước cho các tổ chức tư nhân trong nước hoặc nước ngoài.
Trong quá trình xử lý nợ xấu cũng cần phải chấp nhận thực tế là doanh nghiệp nào quá xấu và không nằm trong lĩnh vực nhạy cảm thì cần có cơ chế cho họ thực hiện phá sản. Tuy nhiên, với bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện nay, không nên để xảy ra đổ vỡ hệ thống, vì tác động lan truyền của nó trong nền kinh tế là rất lớn, đặc biệt là các tổ chức tín dụng.
Trong trường hợp công ty mua bán nợ xấu được thành lập theo đề xuất của Ngân hàng Nhà nước thì theo tôi, Ngân hàng Nhà nước chỉ nên giữ vai trò cung cấp thông tin, giám sát và phối hợp hành động giữa các bên, chứ Ngân hàng Nhà nước không thể là người cung cấp nguồn lực tài chính duy nhất để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
Do đó, Ngân hàng Nhà nước chỉ là một thành viên trong uỷ ban hay trong công ty mua bán nợ xấu này. Nguồn lực xử lý nợ xấu có thể huy động ở nhiều kênh khác nhau như từ Bộ Tài chính, các tổ chức kinh tế tài chính khác trong nước, đặc biệt cần phải chấp nhận nguồn lực từ nước ngoài tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu hiện nay.
Thực chất, với nguồn vốn từ Bộ Tài chính thì cũng sẽ gặp khó khăn, vì thâm hụt ngân sách vẫn đang trong tình trạng triền miên từ năm này qua năm khác, nếu bỏ tiền ra xử lý nợ xấu, thì tiền đó bản chất cũng là đi vay nợ, nếu dùng nợ để mua lại nợ thì đây là bài toán rất rủi ro. Trong khi đó, các tổ chức tài chính khác trong nước hiện nay cũng đang gặp khó khăn nên nguồn lực cũng sẽ không có nhiều.
Vì vậy, để giải quyết nhanh và dứt điểm bài toán nợ xấu cần chấp nhận có sự tham gia của các tổ chức nước ngoài, nếu các nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng tham gia thì đây là điều tốt cho nền kinh tế.
Theo tôi, những tư tưởng trông chờ vào các tổ chức trong nước xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng hiện nay là tư tưởng cục bộ, có thể những tư tưởng này bị chi phối bởi các nhóm lợi ích trong nước bằng cách này hay cách khác để làm sao nợ xấu được xử lý theo hướng có lợi cho họ. Việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước nên hạn chế sử dụng nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước.
Chúng ta nên đẩy nhanh quá trình mua lại nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước thông việc bán rẻ hoặc ưu đãi chính sách, ví dụ như miễn giảm thuế trong một thời gian nhất định, cho tổ chức mua lại các doanh nghiệp này.
Nếu chỉ Ngân hàng Nhà nước đứng ra xử lý với nội bộ ngân hàng, rất có thể sẽ xảy ra trường hợp “thiên vị” giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp kia. Điều này có thể đưa đến kết quả là khoản nợ xấu của một doanh nghiệp nào đó có thể được định giá cao hơn so với giá trị thật của nó.
Vì vậy, để tránh những tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình xử lý nợ xấu thì khi thành lập công ty mua bán nợ xấu phải có đầy đủ các thành phần khác nhau như: bộ phận pháp lý, có cơ quan kiểm toán và định giá độc lập để định giá khoản nợ xấu hay tài sản thế chấp của khoản nợ xấu đó, có các cố vấn kinh tế có kinh nghiệm, có đại diện của Bộ Tài chính, có những bộ phận giám sát độc lập từ bên ngoài... khi đó việc xử lý nợ xấu sẽ nhanh và minh bạch hơn so với hiện nay.
Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, các mảng hoạt động đều gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với ngành ngân hàng để phát triển bền vững và có hiệu quả cao.
“Mua bán nợ không hẳn là giải pháp hay, nói cách khác là không hiệu quả trong điều kiện của chúng ta hiện nay”, ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam, cho biết như vậy khi nói về đề án lập công ty mua bán nợ xấu ngân hàng.
Trong tuần đầu tiên của tháng 7/2012, đã có những thay đổi liên tiếp trong giới lãnh đạo ngân hàng khi nhiều CEO liên tục thay đổi “địa chỉ".
Ngân hàng Quốc tế (VIB) vừa ký kết thỏa ước tín dụng với Tổ chức Tài chính Phát triển Hà Lan (FMO), đón thêm nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Mới đây, lần đầu tiên trong lịch sử, Ngân hàng Nhà nước công bố công khai một cách có hệ thống các thông tin về hoạt động tín dụng theo Thông tư 35/2011.
Giới ngân hàng đang rất quan tâm đến chuyện nhiều tổng giám đốc (CEO) và nhân sự cấp cao của các ngân hàng thay đổi nhiệm sở. Đa số CEO ngân hàng Việt Nam chưa thể hiện rõ vai trò trong nghề. Ở nhiều ngân hàng, CEO ít nhiều vẫn mang tính hình thức chứ thực ra các quyết định quan trọng vẫn ở HĐQT.
Cho doanh nghiệp (DN) vay vốn với lãi suất (LS) cao; “chặt chém” không thương tiếc trên thị trường liên ngân hàng... là những “phương án kinh doanh” đã giúp các ngân hàng kiếm lợi nhuận khủng giữa lúc kinh tế khó khăn.
Là DN, ai cũng muốn lãi lớn và “khoe” thành tích ra công chúng, nhưng trên thị trường Việt Nam lại có chuyện ngược đời: ngân hàng sợ công bố lãi lớn.
Tình trạng doanh nghiệp khó khăn, ngân hàng khó giải ngân đã khiến tín dụng trên toàn hệ thống sụt giảm. Trong bối cảnh niềm tin không có thì tài sản thế chấp vẫn là điều kiện chính trong các giao dịch vay vốn.
Nhiều chuyên gia cho rằng, nhiều ngân hàng nhỏ chật vật tồn tại với lợi nhuận ngày càng ít ỏi hoặc liêu xiêu vì nợ xấu là hệ quả tất yếu, đã được báo trước, của việc phát triển nóng ngành ngân hàng. Đã đến lúc thanh lọc các đơn vị yếu kém.
Cùng với việc hạ các mức lãi suất điều hành, Ngân hàng Nhà nước đang bật đèn xanh để các ngân hàng thương mại dùng những biện pháp có thể nhằm đẩy tín dụng khỏi thế bế tắc.
Trái ngược với hàng chục ngàn hộ dân vì nhu cầu bức xúc về chỗ ở đã bỏ qua quy định, nhắm mắt chuyển nhượng đất chưa có “sổ đỏ” hoặc tự xây cất nhà ở trên đất nông nghiệp, đất đang có dự án quy hoạch... đang ngày đêm mong ngóng được cấp sổ đỏ chính danh cho tài sản của mình, hàng trăm hộ dân tại Tp.HCM đang xếp hàng đòi trả lại “sổ đỏ” chỉ vì lý do: không có tiền để nộp!
“Nói thật, dưới góc độ là doanh nghiệp, TKV hiện giờ cũng như đang ngồi trên đống lửa, vì số tiền mà chúng tôi đã bỏ vào hai dự án này là rất lớn”.
Con số 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở lần này là một cố gắng lớn của Chính phủ, song nếu chương trình triển khai hiệu quả thì cũng không loại trừ khả năng sẽ “bơm” thêm, thông tin được Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam đưa ra bên lề lễ ký hợp tác về việc triển khai gói hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng, sáng 15/5 giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Xây dựng.
Một số ngân hàng, trong nỗ lực bảo toàn lợi ích tài chính của mình, đã áp dụng nhiều chiêu mới để đòi nợ, có thể nói là khá thô lỗ. Nào là spam tin nhắn, gửi email, gửi thư hoặc gọi điện nhắc nợ và thậm chí hăm dọa đủ các kiểu.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.