Lạm phát đang giảm dần khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 đã ở mức tăng thấp nhất kể từ đầu năm (0,82%). Trao đổi về vấn đề này, ông Võ Trí Thành (phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) cho rằng đây là tín hiệu tích cực nhưng chưa bền vững.
Ông Võ Trí Thành - Ảnh: Nguyễn Khánh
Ông Thành nói:
* Nhiều chuyên gia cho rằng có một nguyên nhân quan trọng khác là việc quản lý thị trường chưa được quan tâm đúng mức, nên giá cả từ nơi sản xuất đến phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng có sự chênh lệch rất lớn?
- Vấn đề ở đây là làm sao để giá phản ánh đúng chi phí. Cần nhìn khâu phân phối ở góc độ là nó sẽ tác động lan tỏa đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Nếu hình thành và phát triển được mạng lưới phân phối hàng hóa để bảo đảm tính liên thông thì sẽ giảm dần các khâu trung gian đẩy giá hàng hóa tăng cao. Ở đây xin nêu một vấn đề là khi bàn đến việc mở cửa thị trường phân phối, chúng ta không nên chỉ nhìn và lo lắng về việc cạnh tranh giữa trong nước và ngoài nước. Vấn đề này cũng quan trọng nhưng quan trọng hơn là tạo động lực cho sự phát triển nội tại của cả ngành phân phối.
- Lạm phát theo tháng có xu hướng giảm, điều này không có gì bất ngờ, vì ngay từ đầu năm khi triển khai nghị quyết 11 của Chính phủ, đã có dự báo đỉnh của lạm phát (tính theo năm) sẽ nằm vào tháng 8. Đến tháng 9 xu hướng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm, như vậy có thể dự báo lạm phát năm nay quanh ngưỡng 19-20%. Tuy nhiên kết quả đạt được nêu trên còn mong manh.
Thứ nhất, đây mới là tháng thứ hai liên tiếp có mức tăng CPI dưới 1%, trong khi quán tính của lạm phát, nhất là trong giai đoạn lạm phát cao, sẽ còn kéo dài. Thứ hai, việc chống lạm phát hiện nay phụ thuộc nhiều hơn vào các vấn đề bên trong. Xác suất để có cú sốc bên ngoài, ví dụ như giá thế giới leo thang, đã nhỏ hơn. Kinh tế thế giới được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định giá xăng dầu và hàng hóa cơ bản trong năm tới sẽ giảm 1-3 điểm %. Như vậy có thể áp lực về giá bên ngoài đỡ hơn, nhưng bên trong vẫn còn nhiều vấn đề đáng lưu ý.
Ví dụ như chuẩn bị tăng lương. Kinh nghiệm cho thấy việc tăng lương luôn gắn với tâm lý lạm phát kỳ vọng. Hơn nữa trong những tháng cuối năm, áp lực từ sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư công đối với tín dụng rất lớn. Thứ ba, vẫn còn rập rình vòng xoáy đôla hóa, biến động giá vàng. Dự trữ ngoại hối mỏng, nhập siêu tuy có giảm nhưng vẫn còn cao (chín tháng khoảng 6,84 tỉ USD).
* Phiên họp Chính phủ thường kỳ mới đây đã bàn sâu về lạm phát và đưa ra nhận định “nguyên nhân tiền tệ là chính”. Ông nghĩ sao về nhận định này?
- Nhìn chung các nghiên cứu xoay quanh chủ đề này mặc dù có những khác biệt nhất định nhưng đều đi đến thống nhất một số vấn đề cơ bản. Trong đó, nguyên nhân hàng đầu của lạm phát trong những năm qua chính là sự “bành trướng” rất nhanh của tổng cầu. Nói một cách nôm na, đó là sự gia tăng quá mức tín dụng và đầu tư. Xin lấy ví dụ: tốc độ tăng trưởng tiền tệ (M2) là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lặp lại (tuy tốc độ có thấp hơn năm 2007), dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 bị đẩy lên cao.
Vấn đề tiếp theo nằm ở tình trạng đôla hóa, vàng hóa. Khi tình hình bất ổn vĩ mô cao thì dễ tạo ra vòng xoáy “dịch chuyển” sang đôla, vàng... làm mất giá đồng tiền VN.
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao thời gian qua nằm ở cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nguyên nhiên vật liệu bên ngoài. Chính vì vậy khi giá thế giới lên thì chúng ta bắt buộc phải “nhập khẩu lạm phát”. Ở đây có một hàm ý quan trọng là thông điệp chính sách phải nhất quán. Không thể hôm nay anh nói là ổn định vĩ mô, ngày mai lại nói thúc đẩy tăng trưởng, nới lỏng chính sách...
* Để tiếp tục kiềm chế lạm phát trong năm 2012, có ý kiến cho rằng tăng trưởng tín dụng năm tới chỉ nên duy trì mức thấp khoảng 15-17%, tổng phương tiện thanh toán 14-16%?
- Do một thời kỳ dài có “dễ dãi” tín dụng nên nhiều doanh nghiệp dựa vào vốn vay, không ít doanh nghiệp có tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu rất cao. Vấn đề này chứa đựng nhiều rủi ro, ví dụ một doanh nghiệp không sao nhưng nhiều doanh nghiệp như vậy sẽ tạo ra áp lực để tiếp tục “bành trướng” tín dụng. Dĩ nhiên muốn chống được lạm phát phải “chịu đau”, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Cần thấy rằng nếu để bất ổn vĩ mô trở lại và lạm phát bùng lên cao thì chúng ta sẽ trả giá rất đắt. Đã đến lúc không nên đi lại con đường tăng trưởng trong nhiều năm qua.
* Về lý thuyết, khi lạm phát cao các nước thường sử dụng chính sách tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Với thực tế VN, chính sách tiền tệ nên được siết ở mức độ nào để vẫn đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh?
- Có ý kiến cho rằng giảm lãi suất thì chi phí giảm, nhưng cần trở lại một vấn đề cơ bản được đặt ra trong các nghiên cứu về lạm phát, đó là nguyên nhân chính nằm ở sự “bành trướng” của tổng cầu. Chắc chắn việc tiếp cận vốn thời gian tới sẽ còn khó khăn, chính vì vậy chúng ta mới đặt vấn đề hỗ trợ khu vực sản xuất kinh doanh, tuy nhiên phải rất cụ thể.
Ví dụ chúng ta hay nói cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tiếp cận vốn, nhưng đây là nhóm doanh nghiệp chiếm đến hơn 90% số doanh nghiệp hiện nay, cho nên khó mà trải rộng được chính sách để bao trùm lên toàn bộ. Hơn nữa, trong điều kiện bình thường thì tỉ lệ tiếp cận vốn ngân hàng cũng chỉ chiếm khoảng 1/3 doanh nghiệp. Cần hướng nguồn tín dụng vào khu vực xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn...
Nguồn cung tăng, giá thực phẩm giảm
So sánh bảng ghi nhận giá các mặt hàng về chợ đầu mối trên địa bàn TP.HCM như Tân Xuân, Hóc Môn, từ thời điểm đầu tháng 9 và ngày 28-9 thấy giá heo hơi giảm 5.000-6.000 đồng/kg, thịt heo giảm bình quân 8.000 đồng/kg, thịt pha lóc như đùi, sườn non, cốt lết, nạc dăm... giảm 6.000-13.000 đồng/kg. Cho dù trong suốt tháng 9, mức giảm này có trồi sụt theo ngày nhưng xu hướng chung là giảm dần. Đặc biệt từ giữa tháng 9 đến nay, giá thịt heo - mặt hàng từng tăng nóng trong những tháng trước - đột ngột giảm mạnh.
Giá thực phẩm giảm từ đầu nguồn tạo điều kiện cho giá bán lẻ trên thị trường giảm theo. Giá thịt heo đùi giảm 9.000 đồng/kg, từ 94.000 đồng còn 85.000 đồng/kg, thịt ba rọi còn 90.000 đồng/kg, cốt lết 85.000 đồng/kg, giảm 11.000 đồng... Tương tự, thịt gia cầm cũng có những diễn biến giảm khác thường: giá thịt gà thả vườn rẻ hơn gà công nghiệp. Lý do: nông dân phải bán tháo để kịp tái đàn. Giá gà lông thả vườn chỉ còn 32.000-33.000 đồng/kg, trong khi hồi cuối tháng 8 là 36.000-37.000 đồng/kg. Riêng nhóm thủy hải sản, rau củ quả giá tương đối ổn định mặc dù nguồn hàng bị phụ thuộc vào thời tiết khá nhiều.
Theo các tiểu thương, yếu tố quyết định đến xu hướng giảm giá trong tháng qua là nguồn cung dồi dào. Lượng hàng về chợ khá nhiều và ổn định sau một thời gian biến động do dịch bệnh, lãi suất cao khiến nông dân không mặn mà tái đàn.N.Bình
ANZ dự báo, với việc tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền đã giảm vào nửa đầu năm nay, lạm phát của Việt Nam sẽ hạ nhiệt dần trong những tháng sắp tới.
Những điều này dường như cho thấy, những đánh giá phân tích của giới hoạch định chính sách kinh tế thế giới xung quanh nguyên nhân gây ra khủng hoảng và từ đó nêu ra các giải pháp cứu vãn vẫn chưa sát thực tế. Theo bình luận của tờ Le Echos (Pháp), nguyên nhân của hàng loạt các cuộc khủng hoảng trên thế giới chính là thiếu sót trong quản lí của chính phủ các nước phương Tây.
Có lẽ, viễn cảnh cho một cuộc khủng hoảng ở châu Âu đang đến rất gần. Chừng nào các vấn đề nội tại của liên minh châu Âu vẫn chưa được giải quyết, khu vực này vẫn sẽ phải chịu ảnh hưởng nặng nề khi một trong các quốc gia thuộc liên minh gặp khó khăn
Morgan Stanley mới đây đã phân tích các chỉ số CPI và tăng trởng GDP của một số quốc gia và xem xét liệu hai chỉ số này sẽ ảnh hởng thế nào đến các chính sách tiền tệ quốc tế trong năm tới.
Áp lực đến lạm phát trong những tháng cuối năm chủ yếu bắt nguồn từ trong nước. Phải chăng do chúng ta đang lặp lại những sai lầm của năm trước là hứng khởi quá đà với cái gọi là những thành tích đạt được?
Theo một quan chức kinh tế Trung Quốc hàng đầu, giới lãnh đạo chính trị Châu Âu thiếu dũng khí và không nhìn xa trông rộng trong việc xử lý cuộc khủng hoảng nợ hiện nay.
Đặc biệt, sự hội tụ tập trung trong thời gian ngắn các cú sốc tăng tỷ giá (tăng 9,3% từ ngày 11/2/2011), và tăng giá xăng dầu (tăng từ 17-24%) và từ 1/3/2011 là giá điện tăng 15,2% càng làm bùng phát các xung lực tiêu cực làm tăng hệ quả lạm phát của chúng. CPI tăng đã làm giảm mức sống thực tế của người tiêu dùng, nhất là những người có thu nhập thấp.
Bộ trưởng tài chính các nước châu Âu và Mỹ đã nhóm họp ở Wroclaw, Ba Lan trong hai ngày 16 và 17-9 để bàn biện pháp ngăn chặn khủng hoảng nợ Hi Lạp lan rộng. Năm ngân hàng trung ương lớn đã vào cuộc. Theo báo Wall Street Journal, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cùng Cục Dự trữ liên bang Mỹ, Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhật và Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ đã đạt thỏa thuận cùng bơm USD vào hệ thống ngân hàng châu Âu.
Chuyên gia kinh tế cao cấp BÙI KIẾN THÀNH cho rằng, có nhiều điểm chưa phù hợp khi đánh giá về nguyên nhân lạm phát thời gian qua, trong đó có việc "quy" cho chính sách tiền tệ. Ông phân tích những nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng lạm phát kéo dài.
Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia vừa hoàn thành và trình Chính phủ dự thảo báo cáo kinh tế vĩ mô 8 tháng và dự báo năm 2011-2012. Theo phân tích của ủy ban này, chỉ số giá tiêu dùng CPI cả năm 2011 nhiều khả năng dao động quanh ngưỡng 18%. Bước sang năm 2012, CPI sẽ giảm xuống, dự kiến khoảng 9%-10%.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.