Tính thanh khoản kém của hệ thống ngân hàng được cho là một trong những nguyên nhân tạo áp lực tăng CPI
Nền kinh tế có thể bị “suy nhược” vì thiếu vốn nếu nỗi ám ảnh lạm phát lớn quá mức thực tế. Nhận diện đúng tình trạng lạm phát là vấn đề không nhỏ, không đơn giản vào lúc này.
Giám đốc Trung tâm kinh tế và chính sách, Trường đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành cho biết: “Lạm phát hiểu theo đúng nghĩa phải là sự lạm dụng phát hành tiền tệ”, nhưng theo các số liệu thực tế, 5 tháng đầu năm không có hiện tượng lạm dụng phát hành tiền. Bên cạnh đó, trong quí I/2010, nhất là trong tháng 3 có những dấu hiệu tăng bất thường của chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nhưng trong tháng 4 và tháng 5, CPI lại chỉ tăng với mức nhỏ hơn 0,5% (tháng 4 tăng 0,14% và tháng 5 tăng 0,27%) chính là dấu hiệu tốt về sự ổn định trong ngắn hạn của nền kinh tế.
“Chữa” tăng CPI theo… triệu chứng
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, TS Nguyễn Đức Thành lý giải, CPI 5 tháng đầu năm vẫn tăng 4,55% so với tháng 12/2009 do độ trễ của chính sách nới lỏng tiền tệ trong năm 2009 mà cụ thể là từ gói hỗ trợ lãi suất 4%. Thêm vào đó, quyết định điều chỉnh tỷ giá giữa USD và tiền đồng Việt Nam cuối năm 2009 cũng tác động mạnh đến giá cả nhiều nguyên nhiên vật liệu đầu vào, từ đó dẫn tới việc tăng giá thành sản phẩm bán ra trên thị trường. Đặc biệt, trong quý I/2010, việc một số mặt hàng thiết yếu như điện, than, nước, xăng dầu… được điều chỉnh gần như đồng thời đã khiến nhiều mặt hàng “ăn theo” tăng giá kỹ thuật và nhất là tăng giá do tâm lý. Cũng bàn về nguyên nhân CPI 5 tháng tăng cao, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, Tổng Giám đốc Quỹ đầu tư V Capital cho rằng, với đặc thù sản xuất trong nước chỉ nội địa hóa được từ 10 - 20%, còn lại phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, quyết định điều chỉnh tỷ giá như vừa qua đã không có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu mà còn khiến cho giá nguyên liệu nhập khẩu tăng cao, dẫn tới chi phí giá thành sản phẩm cao, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh giá bán ra để đảm bảo lợi nhuận.
Ông Thành còn lưu ý, do “bệnh” quá sợ lạm phát, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ (bằng việc nâng lãi suất cơ bản tiền đồng) nhưng lại không lường hết những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam với đặc trưng tín dụng cho vay tiêu dùng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 10% tổng mức tín dụng (ở Mỹ lên tới 60%), còn lại là tín dụng doanh nghiệp. Hậu quả là các ngân hàng thương mại bị rơi vào tình trạng khan tiền, bắt buộc phải chạy đua tăng lãi suất huy động dưới nhiều hình thức để đáp ứng nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp. Điều này khiến lãi suất cho vay có lúc đã bị đẩy lên tới mức 18 - 19%/năm. Tuy nhiên, ngay cả với mãnh lực tăng lãi suất huy động, các ngân hàng thương mại vẫn đang rất thiếu vốn bởi nguồn tiền từ người dân đang có xu hướng đổ sang kênh chứng khoán và bất động sản - hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn trong thời điểm biến động hiện nay. Kết cục là, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã phải chấp nhận vay “chợ đen” với mức lãi “cắt cổ” 3 - 4%/tháng để “sống sót” thay vì phải phá sản như bộc bạch mới đây của chuyên gia Lê Xuân Nghĩa đến từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chính từ việc chấp nhận lãi suất vay vốn quá cao này dẫn tới giá thành sản phẩm phải tăng theo, tạo áp lực lớn tăng CPI.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành cảnh báo: “Việt Nam đang bị thiểu phát nếu xét về mặt tiền tệ”, nhưng CPI lại tăng mạnh. Tuy nhiên, “nếu chỉ vì CPI tăng mà lập tức tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tín dụng ngân hàng thì nguy hiểm chẳng khác nào việc một bác sĩ mới đo nhiệt độ của người bệnh đã vội kết luận, chẩn đoán và kê đơn cho bệnh nhân uống kháng sinh luôn”, ông Thành lo lắng.
Bài toán thanh khoản
Bên cạnh giải pháp giữ ổn định cung cầu các mặt hàng thiết yếu (chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu CPI) như lương thực, thực phẩm, xăng dầu để không tạo áp lực tăng CPI, giải quyết thanh khoản cho ngân hàng thương mại chính là giải pháp mà hầu hết các chuyên gia kinh tế đều cho là thích hợp và hiệu quả trong thời điểm hiện nay. Cũng theo chuyên gia Bùi Kiến Thành, nguồn vốn nhàn rỗi huy động từ người dân chỉ là một trong nhiều nguồn phương tiện thanh toán có tính chất dự trữ chiến lược cho thanh khoản của hệ thống ngân hàng, chứ không phải là nguồn vốn chiến lược cho phát triển kinh tế. Trước tình trạng nguồn tín dụng toàn cầu co rút lại, chính phủ các nước đã đồng loạt hạ thấp lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng thương mại. Nhiều ngân hàng trung ương áp dụng chính sách tháo khoán cho hệ thống ngân hàng thương mại vay vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp. Lãi suất tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại ở EU đã xuống tới 1%, Mỹ là từ 0 - 0,25%, Nhật là 0,1%.
Việc chấp nhận lãi suất vay vốn quá cáo dẫn tới giá thành sản phẩm phải tăng theo, tạo áp lực lớn tăng CPI.
Với chủ quyền phát hành tiền tệ được luật pháp cho phép, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ “đo lường” hàng ngày lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế để áp dụng ngay các biện pháp thu hồi vốn vay từ ngân hàng thương mại nếu có triệu chứng “thừa tiền” gây lạm phát; cũng như áp dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn để ngân hàng thương mại đủ thanh khoản cho doanh nghiệp vay phát triển sản xuất với lãi suất hợp lý dưới 12%/năm, góp phần quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra. Giải pháp này không làm ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ cho ngân hàng thương mại vay vốn chứ không phải cho không hay bù lãi suất.
Về phía các ngân hàng thương mại cần nâng cao nghiệp vụ thẩm định dự án để thay đổi phương thức cho vay theo đối tượng; chuyển sang cho vay theo dự án có hiệu quả cao, có khả năng tạo nhiều việc làm, có khả năng tạo ra các sản phẩm có thị trường, từ đó đóng góp vào tăng trưởng chung GDP.
Đồng quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành cho rằng, với tình trạng khan vốn hiện nay, Ngân hàng Nhà nước nên “bơm” tiền cho ngân hàng thương mại cùng với sự tăng cường giám sát để đảm bảo điều tiết lưu lượng tiền trong nền kinh tế cũng như tránh được các rủi ro cho hệ thống. Trong đó, rủi ro lớn nhất là việc các ngân hàng thương mại nhỏ “chơi trò ponzi”, chấp nhận tăng lãi suất huy động để dùng chính các khoản vay nợ ngắn hạn cho việc trả nợ dài hạn. Khi nợ tích lũy tăng lên vượt quá khả năng đi vay, dù chỉ tại một mắt xích nhỏ sẽ có thể kéo theo sự sụp đổ của một loạt các cơ sở tín dụng và ngân hàng thương mại. Điều này đã xảy ra tại Việt Nam vào cuối những năm 1980. Vậy nên, lúc này câu chuyện lại chính là việc đảm bảo tính thanh khoản cho các ngân hàng thương mại!
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa lên tiếng cảnh báo về mối đe dọa khủng hoảng đối với hệ thống tiền tệ toàn cầu và một cuộc suy thoái sâu rộng khác có thể xảy ra trong thời gian tới.
IMF khẳng định kinh tế thế giới không suy thoái lần 2, đồng thời có kế hoạch lập ra kênh tín dụng mới với ít điều kiện ràng buộc hơn. Theo Giám đốc điều hành Dominique Strauss-Kahn, chương trình này sẽ giúp ngăn chặn hậu quả của các gói giải cứu.
Tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2010 đang phát triển theo hướng tích cực. Nền kinh tế phục hồi khá nhanh với mức tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước.
Lạc quan về số liệu tăng trưởng và tình hình lạm phát 6 tháng đầu năm của Việt Nam, bộ phận nghiên cứu ngân hàng Standard Chartered hạ dự báo tốc độ tăng giá trong cả năm 2010 còn 9,5%, thay vì 11,5% trước đó.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nỗ lực phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế ở mức cao tiếp tục là những nhiệm vụ của Hà Nội trong 6 tháng cuối năm.
Nhìn tổng thể, khó có quốc gia nào tại châu Âu có thể so sánh với Hy Lạp về mức độ “chúa chổm” với số nợ lên tới 115,1% GDP (2009) và thâm hụt ngân sách ở mức 13,6% tổng sản phẩm quốc nội. Tình trạng thu không đủ chi cũng diễn biến khá nghiêm trọng tại Tây Ban Nha với mức thâm hụt tương đương 11,2% GDP. Trong khi đó, nếu so sánh riêng về tỷ lệ nợ quốc gia so với tổng thu nhập, Italy thậm chí còn bi đát hơn cả Hy Lạp.
Gần một tháng sau khi được Liên minh châu Âu (EU) nhất trí, khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu đã chính thức thành lập quỹ cứu trợ chống khủng hoảng trị giá 750 tỷ euro để giúp các nước trong khu vực gặp khó khăn về tài chính như Hy Lạp.
Cuộc khủng hoảng ở châu Âu tác động tới kinh tế Mỹ chủ yếu qua các mối liên hệ về tài chính, còn với các nước đang nổi, thương mại là vấn đề đáng lo ngại, nhất là các nước hướng mạnh vào xuất khẩu.
Lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ châu Âu hồi tháng trước đã khiến chứng khoán Mỹ trải qua một tháng tồi tệ nhất trong hơn một năm qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, lo ngại về việc châu Âu sẽ là trở ngại cho nền kinh tế Mỹ bị thổi phồng quá mức.
Ngày 7-6, trao đổi với báo chí, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định lạm phát năm 2010 sẽ không thể ở mức 7% như nghị quyết của Quốc hội. Ông nói:
Quá lo lắng về lạm phát để rồi áp dụng máy móc chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ không thể kiềm chế lạm phát mà trái lại sẽ khiến các doanh nghiệp “suy nhược” vì thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất và hệ lụy trực tiếp là nền kinh tế không thể tăng trưởng được như mong muốn.
Dường như lâu nay ở ta có một quan niệm sai lầm và nguy hại rằng lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các cơn sốt giá nguyên nhiên liệu chiến lược đầu vào. Một số ít người thì tỉnh táo hơn đã nhắc đến sự tăng trưởng tín dụng mạnh để kích cầu trong những năm trước là một nguyên nhân khác của xu hướng lạm phát tăng cao trong những năm gần đây. Thế nhưng hầu như không ai đả động đến một nguyên nhân cũng rất quan trọng là thâm hụt tài khóa đã và đang ở mức khá cao như hiện nay.
Thế giới đang đối diện với ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng đủ loại mang tính toàn cầu, liên đới nhiều nước dù phát triển nhất thế giới hay đang và chậm phát triển. Chính vì vậy, tìm ra những nguyên tắc chính để giải quyết khủng hoảng tài chính là một trong những điều đầu tiên cần làm của các nhà hoạch định chính sách.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.