Lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ châu Âu hồi tháng trước đã khiến chứng khoán Mỹ trải qua một tháng tồi tệ nhất trong hơn một năm qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, lo ngại về việc châu Âu sẽ là trở ngại cho nền kinh tế Mỹ bị thổi phồng quá mức.
Các chuyên gia lưu ý rằng, thương mại giữa Mỹ và châu Âu còn tương đối nhỏ. Các ngân hàng Mỹ cho đối tác châu Âu vay hàng tỷ USD và vẫn có đủ vốn để chống lại những thiệt hại từ khủng hoảng.
Ngoài ra, Liên minh châu Âu đang chuẩn bị gói cứu trợ trị giá một nghìn tỷ USD cho các nước thành viên còn yếu trong liên minh. Ngân hàng trung ương Mỹ đã bắt đầu mua nợ chính phủ để bảo vệ các ngân hàng châu Âu và các đối tác của Mỹ khỏi nguy cơ vỡ nợ từ các nước EU.
Theo các chuyên gia, những lo ngại đã khiến thị trường chứng khoán Mỹ tạm thời chững lại. Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones đã giảm hơn 12% kể từ cuối tháng Tư. Tuy nhiên, các nền tảng của nền kinh tế Mỹ vẫn được duy trì an toàn.
“Các mối liên hệ vật chất với châu Âu không đủ lớn để tác động tới nền kinh tế Mỹ,” trưởng nhóm các nhà kinh tế Bắc Mỹ thuộc ngân hàng Bank of America Merrill, Lynch Ethan Harris, cho biết. Tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những rủi ro sau:
Những rủi ro đối với ngân hàng
Nếu các nước châu Âu mắc nợ, các ngân hàng lớn của Mỹ có hoạt động tại châu Âu có thể sẽ bị ảnh hưởng. Các ngân hàng Mỹ không giữ nhiều nợ quốc gia của Hy Lạp, Tây Ban Nha và các nước khác, nhưng họ lại đầu tư mạnh vào các ngân hàng châu Âu lớn – những ngân hàng có nguy cơ cao nhất khi châu Âu rơi vào khủng hoảng nợ.
Ngân hàng Trung ương châu Âu cảnh báo rằng, các ngân hàng châu Âu có thể phải giảm giá trị tài sản trên sổ sách khoảng 239 tỷ USD trong năm nay và năm tới. Những thiệt hại như vậy có thể giúp các ngân hàng châu Âu không phải hoàn nợ cho các công ty tài chính của Mỹ. Và nếu các ngân hàng của Mỹ lo ngại về điều này, thì các khoản cho nước ngoài vay sẽ dừng lại.
Đối với châu Âu, ngân hàng Mỹ có khoảng 1,1 nghìn tỷ USD cổ phần, tương đương 38% của 3,1 nghìn tỷ giá trị các khoản vay và chứng khoán phát sinh so với các ngân hàng nước ngoài. Chứng khoán phát sinh là các khoản đầu tư có giá trị phụ thuộc vào giá của tài sản cơ bản, chẳng hạn như cổ phiếu hoặc tài sản thế chấp.
Gần đây, Goldman Sachs cho rằng, các thiệt hại đáng kể từ việc đầu tư gắn với châu Âu sẽ khiến các ngân hàng Mỹ giảm cho vay. Một cuộc khủng hoảng tín dụng sau có thể làm giảm 1,5% tăng trưởng của Mỹ và có thể gây ra suy thoái.
Trên thực tế, theo trưởng nhóm các nhà kinh tế Bắc Mỹ thuộc ngân hàng Bank of America, Merrill Lynch Ethan Harris, các mối đe dọa từ Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý và Bồ Đào Nha - những quốc gia yếu nhất trong khu vực đồng euro - về bản chất là không lớn. Ngân hàng Mỹ chỉ cho các nước trên vay 165,9 tỷ USD, tương đương 5,4% các khoản nợ và chứng khoán phát sinh của các ngân hàng Mỹ. Còn với các tài khoản châu Âu khác, Mỹ cũng chỉ cho vay khoảng 10% trên tổng sổ tài sản trị giá 12 nghìn tỷ USD.
Ngoài ra, ngân hàng trung ương châu Âu đã bắt đầu mua trái phiếu chính phủ châu Âu. Điều này có thể hạn chế thiệt hại cho các ngân hàng châu Âu và tránh khỏi rủi ro từ một hoặc nhiều nước EU.
Những rủi ro đối với xuất khẩu
Cục phân tích Kinh tế Mỹ cho biết, 30% hàng hóa và dịch vụ của Mỹ (tương đương 461 tỷ USD) được xuất khẩu sang châu Âu.
Những khó khăn về kinh tế tại châu Âu có thể làm giảm nhu cầu tại thị trường này đối với hàng xuất khẩu từ Mỹ, từ đó sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế nước này.
Xuất khẩu có thể bị tổn thương theo hai cách: Thứ nhất, đồng USD mạnh hơn so với đồng euro khiến hàng hóa và dịch vụ của Mỹ trở nên đắt hơn cho người mua hàng nước ngoài. Vì vậy, sức mua sẽ ít hơn. Thứ hai, việc cắt giảm ngân sách của các quốc gia châu Âu tiếp tục giảm khả năng tài chính của khách hàng trong việc tiếp cận các sản phẩm của Mỹ.
Cuộc khủng hoảng của châu Âu còn có thể gây tổn thương một cách gián tiếp tới Mỹ. Các nền kinh tế châu Á là những nhà xuất khẩu lớn sang thị trường châu Âu. Nếu nền kinh tế yếu kém của châu Âu cắt giảm nhập khẩu từ châu Á, khi đó, nhu cầu của châu Á đối với hàng hóa của Mỹ cũng chậm theo.
Tuy nhiên, trên thực tế, theo ông Harris, tăng trưởng xuất khẩu yếu hơn sẽ không ảnh hưởng tới sự phục hồi của Mỹ. Xuất khẩu chỉ chiếm 12% trong các hoạt động kinh tế Mỹ. Xuất khẩu của Mỹ sang châu Âu chỉ chiếm 3% GDP của Mỹ, ít hơn so với phần trăm của ngành công nghiệp ô tô của nước này.
Ngược lại, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sang châu Á, nơi có nền kinh tế mạnh hơn rất nhiều so với châu Âu, chiếm 27% toàn bộ xuất khẩu của Mỹ trong năm ngoái. Xuất khẩu của Mỹ sang châu Á sẽ hạn chế các doanh nghiệp giảm xuất khẩu sang thị trường châu Âu. Hiện tại, tỷ giá tiền tệ của Trung Quốc so với đồng đô la Mỹ đang bị kìm lại, do vậy, khách hàng Trung Quốc vẫn đủ khả năng mua hàng hóa của Mỹ, ngay cả khi đồng đô la tiếp tục tăng so với đồng euro.
Những rủi ro cho các nhà đầu tư:
Chuyên gia kinh tế Harris cho biết, có lẽ mối đe dọa lớn hơn mà cuộc khủng hoảng châu Âu đem lại cho thị trường là mối lo ngại về tâm lý. Nếu vấn đề nợ lây lan sang nhiều nước EU, các nhà đầu tư có thể quyết định từ bỏ các cổ phiếu. Điều đó sẽ tác động tới đầu tư hưu trí của người Mỹ, chi tiêu tiêu dùng chậm và tổn thương nền kinh tế Mỹ.
Còn trên thực tế, khi đồng đô la tăng so với đồng euro, đồng thời giá dầu giảm. Khi đó, lãi suất thấp hơn và giá dầu thấp hơn sẽ giúp người tiêu dùng vay và chi tiêu nhiều hơn, điều đó sẽ dẫn tới phục hồi kinh tế nhanh hơn. Tiền sẽ bắt đầu chảy ngược lại cổ phiếu.
Cuộc khủng hoảng ở châu Âu tác động tới kinh tế Mỹ chủ yếu qua các mối liên hệ về tài chính, còn với các nước đang nổi, thương mại là vấn đề đáng lo ngại, nhất là các nước hướng mạnh vào xuất khẩu.
Gần một tháng sau khi được Liên minh châu Âu (EU) nhất trí, khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu đã chính thức thành lập quỹ cứu trợ chống khủng hoảng trị giá 750 tỷ euro để giúp các nước trong khu vực gặp khó khăn về tài chính như Hy Lạp.
Nhìn tổng thể, khó có quốc gia nào tại châu Âu có thể so sánh với Hy Lạp về mức độ “chúa chổm” với số nợ lên tới 115,1% GDP (2009) và thâm hụt ngân sách ở mức 13,6% tổng sản phẩm quốc nội. Tình trạng thu không đủ chi cũng diễn biến khá nghiêm trọng tại Tây Ban Nha với mức thâm hụt tương đương 11,2% GDP. Trong khi đó, nếu so sánh riêng về tỷ lệ nợ quốc gia so với tổng thu nhập, Italy thậm chí còn bi đát hơn cả Hy Lạp.
Nền kinh tế có thể bị “suy nhược” vì thiếu vốn nếu nỗi ám ảnh lạm phát lớn quá mức thực tế. Nhận diện đúng tình trạng lạm phát là vấn đề không nhỏ, không đơn giản vào lúc này.
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa lên tiếng cảnh báo về mối đe dọa khủng hoảng đối với hệ thống tiền tệ toàn cầu và một cuộc suy thoái sâu rộng khác có thể xảy ra trong thời gian tới.
Ngày 7-6, trao đổi với báo chí, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định lạm phát năm 2010 sẽ không thể ở mức 7% như nghị quyết của Quốc hội. Ông nói:
Quá lo lắng về lạm phát để rồi áp dụng máy móc chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ không thể kiềm chế lạm phát mà trái lại sẽ khiến các doanh nghiệp “suy nhược” vì thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất và hệ lụy trực tiếp là nền kinh tế không thể tăng trưởng được như mong muốn.
Dường như lâu nay ở ta có một quan niệm sai lầm và nguy hại rằng lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các cơn sốt giá nguyên nhiên liệu chiến lược đầu vào. Một số ít người thì tỉnh táo hơn đã nhắc đến sự tăng trưởng tín dụng mạnh để kích cầu trong những năm trước là một nguyên nhân khác của xu hướng lạm phát tăng cao trong những năm gần đây. Thế nhưng hầu như không ai đả động đến một nguyên nhân cũng rất quan trọng là thâm hụt tài khóa đã và đang ở mức khá cao như hiện nay.
Thế giới đang đối diện với ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng đủ loại mang tính toàn cầu, liên đới nhiều nước dù phát triển nhất thế giới hay đang và chậm phát triển. Chính vì vậy, tìm ra những nguyên tắc chính để giải quyết khủng hoảng tài chính là một trong những điều đầu tiên cần làm của các nhà hoạch định chính sách.
Với gói cứu trợ khổng lồ trị giá 110 tỷ euro của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone), cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp đã tạm thời được giải quyết
Tập đoàn tài chính ngân hàng DBS của Singapore cho rằng châu Á có thể vượt qua những cú sốc phát sinh từ sự rối loạn trên các thị trường tài chính châu Âu, nhưng các nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, như Singapore, Hongkong, Malaysia và Philippines, vẫn rất dễ bị tổn thương.
Theo như dự đoán của hai ngân hàng hàng đầu là UBS và BNP Paribas, khủng hoảng nợ châu Âu sẽ khiến đồng euro còn tiếp tục giảm giá nữa sau khi đã chạm mức thấp nhất kể từ 2006, và điều này có thể kéo dài nhiều năm.
Một trong những tác động phụ của cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp là nó có thể làm cho Trung Quốc trì hoãn việc đưa ra quyết định tăng giá đồng nhân dân tệ của mình.
Trước những thông tin thị trường u ám kéo dài, nhiều doanh nghiệp địa ốc đang phải thay đổi cách bán hàng của mình, trong đó tiếp thị trực tiếp đến nhóm khách hàng có nhu cầu là một trong những cách giúp họ bán hàng trong tình hình hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay không cần thiết phải mở rộng diện áp trần lãi vay bởi biện pháp này không thực sự hiệu quả, thậm chí có thể tự do hóa lãi suất từ đầu tháng 6.
"Đêm trước khủng hoảng", hình ảnh mà Joseph Stiglitz hay ví von, vẫn còn nguyên giá trị. Còn "cơn bão toàn diện" của Roubini cũng có thể bắt đầu từ cuối năm 2013.
Dù những tín hiệu hồi phục của thị trường vẫn chưa rõ ràng, song sự quan tâm của giới đầu tư bất động sản đối với khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua đang mang lại nhiều kỳ vọng tích cực cho các dự án nơi đây.
Công ty Phú Mỹ Hưng cho biết ngày 19/5 sẽ đưa ra thị trường 20 căn biệt thự lâu đài Chateau và 24 căn nhà liên kế với giá từ 22 tỷ đồng đến hơn 72 tỷ đồng/căn (khoảng 80-100 triệu đồng/m2).
Chính sách neo tỷ giá có mục tiêu là giúp ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng làm tăng sức ép cho nhà quản lý, dẫn đến có giai đoạn điều hành bị giật cục, làm tăng lạm phát như xảy ra gần đây.
Bài viết này nhằm mục đích xác định các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam thông qua một phương pháp tiếp cận đơn giản. Mô hình ước lượng của chúng tôi sử dụng cơ sở lý thuyết về lạm phát cho một nền kinh tế nhỏ và mở. Bài viết cố gắng đưa một một vài gợi ý thận trọng cho chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện chính sách kích cầu.
Dù lạm phát vẫn đang ở mức thấp hơn so với năm 2008, nhưng tỷ lệ này tăng mạnh từ giữa năm 2009 và đang trở thành nguy cơ lớn nhất đối với Ấn Độ và Việt Nam. Trung Quốc; Singapore đã tuyên bố nâng giá đồng tiền; Ngân hàng Trung ương Ôxtrâylia, Ấn Độ, Malaixia, Philíppin và Việt Nam cũng đã lần lượt tăng lãi suất trong mấy tháng qua. Nỗi lo lạm phát gia tăng đang đè nặng lên các nền kinh tế Châu Á.
Với số nợ và mức thâm hụt thương mại quá lớn với Trung Quốc như hiện nay, Mỹ đã gia tăng áp lực bằng mọi cách buộc Trung quốc phải "thả lỏng" đồng nhân dân tệ. Ngày 15-4 sắp tới, Bộ Tài chính Mỹ sẽ phải đưa ra tuyên bố xem Trung Quốc có phải là “nước thao túng tiền tệ” hay không. Khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ mới là rất lớn, theo giới phân tích đây có thể là một phần của âm mưu toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới mới.
72% doanh nghiệp tư nhân VN căng thẳng vì vốn. Theo Standard Chartered đồng Việt Nam sẽ giảm giá hơn nữa trong thời gian tới và lạm phát của VN năm nay sẽ ở mức 8,9%. Cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
Trong một thời gian ngắn, nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ. Nhiều chuyên gia dự báo sẽ có thêm một đợt thứ ba trong năm nay, nhưng chưa biết khi nào - có thể vào quý III năm 2010? Liệu có xuất hiện tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ ?
Năm 2009 là năm không yên ả đối với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều biến động phức tạp và liệu thực tế này có tái hiện trong năm nay không lại là câu hỏi không dễ trả lời.
Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát. Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.
Việt Nam đã vượt qua đáy suy thoái kinh tế nhưng thị trường tiền tệ vẫn chưa bền vững, rủi ro cao. Chính phủ nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, không nên chạy theo giải pháp phá giá tiền đồng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thị trường nhà đất năm 2010 sẽ có nhiều áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và thách thức trước sự đổ bộ nhiều hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Giới đầu tư cần có góc nhìn thực tế hơn và họ sẽ phải đau đầu đối diện với thách thức chọn sản phẩm nào và bán cho ai.
Do nhu cầu nhà đất còn rất lớn nên việc đầu tư vào thị trường bất động sản hằng năm lợi nhuận có thể đạt từ 25%-30%, nếu gặp đột biến có thể lên đến 150%.