Cách nay không lâu, quảng cáo ngoài trời là công cụ quảng bá tưởng như đã dành riêng nhắm đến thị trường những người quen uống bia, hút thuốc lá và phải cạo râu mỗi sáng. Nhưng nay công cụ này được phổ biến khắp thế giới dùng chung cho mọi chủng loại sản phẩm tiêu dùng.
Không gian quảng cáo ngoài trời nay bao gồm những panô khổng lồ dựng trên các nóc tòa nhà cao tầng, những bảng hiệu rộng 400m2, những bích chương khổ cực lớn di động trên những chiếc xe buýt công cộng, xe điện ngầm và xe đường sắt cao tốc. Quảng cáo ngoài trời cũng đã xâm chiếm không gian các trạm dừng xe buýt, kiốt bán báo - tạp chí, quầy hàng độc lập trong các đại siêu thị và cửa hàng bách hóa, từ thị trường Mỹ qua thị trường Nga sang thị trường Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc và xuống đến thị trường Singapore.
Nhờ tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, quảng cáo ngoài trời nay cũng kích thích thị giác người tiêu dùng nhiều hơn. Vì ngoài vật liệu giấy, plastic, sơn, đèn néon ra còn có nào là màn hình tinh thể lỏng, màn hình plasma, màn hình cuốn cuộn, màn hình xoay vần… và cả panô quảng cáo có 4 khung bao quanh có đầy đủ hình ảnh và âm thanh sóng nước róc rách!
Theo ZenithOptimedia Group có trụ sở chính ở London thì nhánh quảng cáo ngoài trời hiện trị giá 17 tỉ euro, chiếm 5% tổng giá trị thị trường quảng cáo toàn thế giới. Nhánh quảng cáo này đã có mức tăng trưởng 14% trong thời gian từ 1998 đến 2002, riêng ở thị trường châu Á - Thái Bình Dương, mức tăng trung bình hàng năm là 9%. Nhưng nhìn chung, quảng cáo ngoài trời phát triển mạnh hay yếu tùy theo quy định của pháp luật của từng địa phương. Chẳng hạn như doanh thu từ quảng cáo ngoài trời ở Thụy Sĩ cao 14,4%; ở Nhật 12,5% thì ở Na Uy chỉ là 2,9% và ở New Zealand, 2,2%.
Cho đến nay, ba đại gia làm giàu với quảng cáo ngoài trời toàn thế giới (chiếëm 35% tổng doanh thu) là JCDecaux, Clear Channel và Viacom. Riêng tại thị trường châu Âu, thị phần quảng cáo ngoài trời của JCDecaux lớn bằng thị phần của Clear Channel và Viacom gộp lại. Còn tại châu Á, thị trường quảng cáo ngoài trời phân nhánh chằng chịt, chỉ có JCDecaux là khá lớn ở Nhật nhờ đã có một hợp tác làm ăn với
Mitsubishi. Sự phát triển mạnh mẽ của loại hình quảng cáo này đã khiến các nhánh quảng cáo khác có phần bị thiệt thòi. Robert Triefus, giám đốc quảng cáo - tiếp thị ở nhà thời trang Armani lừng danh thế giới cho biết trong năm 2003 này công ty đã chuyển bớt kinh phí quảng cáo trên báo viết sang quảng cáo ngoài trời. Ðây là chuyện chưa hề xảy ra từ lâu nay. Hàng hiệu Armani mà cũng được quảng bá trên bảng hiệu to ở các địa điểm công cộng ngoài trời sao?
Nhưng thực tế là như vậy không chỉ cho thương hiệu sáng giá này mà cho cả Prada. Nhánh quần áo thời trang thể thao Prada Sport đã nhờ đến công ty quảng cáo tài danh JCDecaux của Pháp để quảng bá cho Prada Sport ở ngay trung tâm thành phố London. Ngoài ra thương hiệu thời trang Zara của Tây Ban Nha và Hennes & Mauritz của Thụy Ðiển cũng đã bắt đầu mua không gian quảng cáo ngoài trời, Zara và H&M hiện là hai công ty kinh doanh cửa hàng chuyên bán quần áo thời trang giá phải chăng thành công nhất châu Âu.
Sự hiện đại hóa cả về nội dung quảng cáo lẫn kỹ thuật quảng cáo ngoài trời đã bắt đầu từ giữa thập niên 80 cùng với các ảnh gây sốc của nhiếp ảnh gia Olivier Toscani dùng làm quảng cáo cho sản phẩm thời trang Benetton (chẳng hạn như bé sơ sinh da đen nhận nguồn sữa từ vú một phụ nữ da đen). Nhưng quảng cáo ngoài trời chỉ thực sự cất cánh khi siêu người mẫu thời trang Eva Zerogina xuất hiện trên các panô lớn quảng cáo cho áo ngực phái đẹp của nhà Wonderbra. Rồi còn hình ảnh David Beckham lơ lửng trên không với ghềnh đá White Cliffs ở Dover làm nền để quảng cáo cho World Cup hay cầu thủ bóng rổ Yao Ming quảng cáo cho điện thoại di động ứng dụng công nghệ CDMA ở Trung Quốc.
Nhưng theo giới chuyên môn, panô quảng cáo ngoài trời vẫn là phương tiện truyền thông thô trần nhất vì không thể dễ dàng thay đổi nội dung và hình ảnh. Cho nên để có hiệu quả, bản tin và hình ảnh phải là những gì thật cuốn hút, tức có thể phải là những gì dễ dàng gây sốc. Và vì thế, quảng cáo ngoài trời khó có thể phát triển mạnh được ở một số thị trường.
Quyết định quan trọng nhất trong việc xây dựng nhãn hiệu là phải đặt tên gì cho sản phẩm hay dịch vụ của mình. Về lâu về dài, một nhãn hiệu sẽ chẳng còn gì khác hơn ngoài một cái tên.
Theo quy luật thu gọn, một nhãn hiệu sẽ mạnh hơn nếu trọng tâm được thu gọn lại. Điều gì sẽ xảy ra khi ta thu gọn trọng tâm đến mức không còn thị trường nào khác nữa cho nhãn hiệu đó? Đó có lẽ là tình huống tốt nhất.
Chất lượng là gì? Ai cũng nghĩ rằng họ có thể nêu ra một sản phẩm chất lượng cao hơn so với một sản phẩm chất lượng kém. Nhưng thực tế, mọi thứ không phải lúc nào cũng rõ rệt như thế.
Khách hàng thường đa nghi. Họ có xu hướng hoài nghi hầu hết những lời tuyên bố về các sản phẩm. Nhãn hiệu của anh có thể sử dụng bền hơn, ít cần bảo trì hơn và dễ sử dụng hơn nhãn hiệu khác, nhưng ai mà chấp nhận những lời lẽ tuyên truyền như thế chứ?
Cái gì diễn ra trong tâm thức một người khi anh ta nghĩ đến việc sở hữu một chiếc Mercedes? Giả sử có thể tò mò “đọc” được suy nghĩ của một người sử dụng ô tô tiêu biểu, ta sẽ thấy từ “uy tín” (prestige) luôn đi kèm với nhãn hiệu đó.
Hãy nghĩ về nhãn hiệu Chevrolet. Điều gì ngay lập tức xuất hiện trong đầu anh? Có vướng mắc gì ư? Dễ hiểu thôi. Đó là vì Chevrolet vừa có thể là xe con vừa có thể là xe tải, vừa có thể to vừa có thể nhỏ, có thể rẻ hay đắt.
Thị trấn nào ở Mỹ cũng có quán cà phê. Còn ở các thành phố, có thể thấy các quán cà phê nhan nhản trong mọi tòa nhà. Vậy ta có thể tìm được gì để ăn trong một quán cà phê?
Ngân sách quảng cáo của một công ty cũng giống như ngân sách quốc phòng của một quốc gia. Những khoản chi phí quảng cáo khổng lồ không giúp anh mua được gì cả: chúng chỉ giữ cho anh không bị mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh mà thôi.
Cùng vớisự phát triển của Internet, quảng cáo trên mạng thông tin toàn cầu này cũng có tiềm năng tăng trưởng mạnhmẽ. Nhưng cách thức kinh doanh bằng một kiểu quảng cáo chui của Alan Raisky thì thật độc nhất vô nhị: Ông gửi quảng cáo đến các địa chỉ E-mail, bất kể người chủ của địa chỉ này có muốn hay không và nhờ đó mà trở thành triệu phú.
Lễ hội Trung thu là một lễ hội truyền thống dân gian có từ ngàn xưa, một lễ hội rất gần gũi với trẻ em, mang đậm nét bản sắc của người Á Đông, vì vậy làm thế nào Kinh Đô có thể chuyển tải “thông điệp” (messages) một cách “đặc sắc và khác biệt” hơn đến người tiêu dùng. Thông qua tập quán “sum họp và đoàn tụ” của các gia đình Việt Nam, thật đầm ấm và hạnh phúc trong những dịp lễ hội, Kinh Đô mong muốn các gia đình duy trì tập quán này khi xã hội đang chịu nhiều tác động của nhịp sống hiện đại.
Chuyện các thương hiệu mời ca sĩ nổi tiếng quảng cáo cho sản phẩm của mình, từ lâu đã trở nên quen mắt với người tiêu dùng trong nước và rõ ràng, các công ty đã nhìn thấy hiệu quả kinh doanh. Ca sĩ được xem là đắt sô quảng cáo nhất có lẽ là Lam Trường, anh đã làm người mẫu cho máy in Epson, tivi Hitachi, nước ngọt Pepsi, snack Oishi…
Kết quả nghiên cứu trên 1.000 người tiêu dùng thuộc mọi giới tính, tuổi tác, trình độ ở Hà Nội, TP.HCM, Hải Dương và Vĩnh Long tiến hành trong thời gian từ cuối năm 2002 đến đầu tháng 2.2003 bởi công ty quảng cáo Leo Burnett Vietnam phối hợp với công ty nghiên cứu thị trường NFO Vietnam cho thấy một số nhóm người tiêu dùng lĩnh hội và cảm nhận các bản tin, hình thức quảng cảo ở ngang mức với giới tiêu dùng ở vài thị trường láng giềng đã quá quen thuộc với quảng cáo từ nhiều thập niên trước như Malaysia và Thái Lan.
Trong thời gian diễn ra khủng hoảng suy thoái kinh tế, người tiêu dùng trở nên khó cám dỗ, khó bị thuyết phục và chinh phục hơn. Vì thế các nhà sản xuất kinh doanh lại càng cần phát đoạn phim quảng cáo sản phẩm của họ nhiều lần hơn nữa trên truyền hình nữ giám đốc Elie Ohayon ở công ty quảng cáo BETC Euro RSCG nhận định.
1992: Quảng cáo trên tivi bắt đầu. 1993: VAC - một trong những công ty quảng cáo đầu tiên được thành lập. 1994: Quảng cáo đầu tiên của Pepsi bắt đầu xuất hiện trên tivi.