Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Dưới đây là ý kiến của TS Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Fitch là một trong ba tổ chức giám định tài chính có uy tín trên thế giới, chuyên đưa ra những hệ số tín nhiệm và năng lực tiền tệ của những công ty, chính phủ để đánh giá và xếp hạng năng lực tài chính của đối tượng được giám định, phục vụ giới đầu tư.
Tuy nhiên, những số liệu mà Fitch đưa ra để nhận định năng lực tài chính của VN cũng như đối với các ngân hàng thương mại VN không phải lúc nào cũng kịp thời và chính xác, thậm chí thiếu cập nhật số liệu hay số liệu lạc hậu.
Đơn cử, như khi đánh giá về kinh tế VN, các số liệu của Fitch về thâm hụt ngân sách cũng như tỉ lệ nợ công của VN chưa chính xác, thực tế thấp hơn những gì Fitch đưa ra.
Cụ thể, thâm hụt ngân sách của VN trong năm 2009 chỉ ở mức 6,2% GDP và Chính phủ VN phấn đấu năm 2010 kéo giảm trên dưới 6%. Tương tự, tỉ lệ nợ công năm 2009 là 41,8% và Chính phủ đang phấn đấu giữ ở mức 45% GDP.
Trong khi Fitch đưa ra số liệu cho rằng thâm hụt ngân sách VN đã lên đến 8,7% GDP năm 2009 và dự kiến sẽ ở mức cao 7,6% GDP trong năm 2010; tỉ nợ công năm 2009 lên đến 45% GDP.
Khi Fitch hạ mức tín nhiệm VN thì việc hạ mức tín nhiệm VCB và ACB là hai ngân hàng lớn hàng đầu ở VN không quá bất ngờ. Bởi vì định mức tín nhiệm của một doanh nghiệp không thể nào cao hơn tín nhiệm của quốc gia nơi doanh nghiệp hoạt động.
Tuy nhiên, theo biểu đồ định vị sức khỏe hệ thống ngân hàng thương mại do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia lập ra thì trước khủng hoảng ACB là ngân hàng cổ phần tốt nhất. Bắt đầu vào khủng hoảng, ACB gần như không thay đổi vị trí của mình.
Riêng trong năm 2010 các ngân hàng trong nước phải thực hiện các chỉ tiêu an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các ngân hàng sẽ phải tăng nguồn vốn tự có để đảm bảo được các chỉ tiêu an toàn theo quy định chung. ACB, VCB có vốn rất lớn và có những chuẩn bị về kế hoạch tăng vốn trong thời gian tới cũng như những điều kiện để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.
Fitch đã hạ mức đánh giá tín nhiệm đối với hai ngân hàng là VCB và ACB với lý do tín dụng tăng nóng. Về lý thuyết, cho vay nhiều, tăng nóng thì có thể ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, rủi ro cao hơn. Nhưng có rủi ro hay không lại là chuyện khác vì phải dựa vào diễn biến trong thực tế.
Cũng cần giải mã việc tăng tín dụng nóng, có thể tỉ lệ cao nhưng số tuyệt đối thấp, hoặc thị phần tín dụng của ngân hàng đó còn nhỏ so với mặt bằng chung.
Về tổng quan, tăng tín dụng năm 2009 bao gồm phần bù cho phần tín dụng bị kìm nén và không tăng của năm 2008 cùng với mức tăng tín dụng tự nhiên của năm 2009. Đặc biệt là hiệu ứng tăng hàng tồn kho sau khủng hoảng và việc áp dụng các chính sách kích cầu qua công cụ tiền tệ là hỗ trợ lãi suất đã kích thích mạnh đà tăng trưởng tín dụng.
Tăng trưởng tín dụng bình quân kép trong hai năm 2008-2009 là 28%, không quá cao với một nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Việt Nam trong bối cảnh động lực tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng chứ không phải từ thị trường chứng khoán.
Những quý đầu năm 2010 tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng cũng rất chậm, chỉ có những tháng gần đây khi lãi suất cho vay giảm các ngân hàng mới cho vay được.
Tín dụng tăng nhanh, lo ngại về khả năng chịu đựng của hệ thống ngân hàng trong điều kiện thị trường chứng khoán chưa phát triển là có cơ sở. Nhưng nếu xét về các chỉ số thì vẫn ở mức an toàn khi dư nợ tín dụng/GDP của VN mới ở mức 105%, trong khi quốc gia có cơ cấu chính trị và kinh tế gần giống Việt Nam là Trung Quốc chỉ số này là trên 160%.
Theo tôi, những đánh giá của Fitch về kinh tế VN cũng như hệ thống ngân hàng là có cơ sở. Tuy nhiên, thực tiễn ở VN có nhiều điều mà những tính toán đó không thể bao quát hết được.
Về cơ bản nền kinh tế VN khá tốt, triển vọng kinh tế VN sáng sủa, trong đó hệ thống ngân hàng VN ổn định. Vì vậy những xếp hạng như vậy chỉ có giá trị tham khảo và là chuyện bình thường chứ không có tính chất khẳng định.
Hơn nữa, các nhà đầu tư chủ yếu nhìn vào triển vọng kinh tế dài hạn, các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế đều khẳng định triển vọng kinh tế dài hạn của VN rất tốt trên nhiều khía cạnh. Nhiều nhà đầu tư quốc tế đang sẵn sàng đầu tư trở lại vào VN cả nguồn vốn trực tiếp và gián tiếp.
Tham khảo để làm tốt hơn
Theo một chuyên gia ngân hàng, đánh giá của các tổ chức định mức tín nhiệm như Standard & Poor’s, Moody’s và Fitch chỉ mang tính tham khảo đối với các nhà đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế bởi không phải các đánh giá này lúc nào cũng đúng.
Điển hình như trong cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới năm 2008, các tổ chức này đã đưa ra đánh giá tín nhiệm rất cao các loại chứng khoán nợ bất động sản nhưng đây lại chính là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Khá nhiều công ty, ngân hàng được các tổ chức này xếp hạng rất cao nhưng đều rơi vào khó khăn. Ngược lại, nhiều ngân hàng ở một số nước bị dự báo sắp sụp đổ lại ăn nên làm ra.
Ngay như với trái phiếu Chính phủ VN, ở thời điểm năm 2008, cũng do nghe theo các đánh giá định mức tín nhiệm, không ít nhà đầu tư nước ngoài đã bán tháo và chịu lỗ nặng. Ngược lại, các ngân hàng trong nước đã nhanh tay mua lại số trái phiếu này và đã lãi lớn.
Khi một quốc gia hay doanh nghiệp bị hạ định mức tín nhiệm thì việc vay mượn sẽ khó hơn, lãi suất cao hơn, nhà đầu tư sẽ không mua hoặc bán chứng khoán của các đơn vị này... Vì vậy, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nên tham khảo đánh giá này để có thể hoàn thiện, chỉnh sửa những tồn tại cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
Cần có cơ chế trao đổi thông tin
Theo ông Lý Xuân Hải - tổng giám đốc ACB, việc các tổ chức định mức tín nhiệm như Fitch, Moody’s, Standard & Poor’s... nâng hay hạ mức tín nhiệm là chuyện bình thường. Không nên vì nâng hạng mà chủ quan hay hạ hạng thì quá lo ngại.
Đó là các tổ chức lớn, có ảnh hưởng nhiều đến giới đầu tư... Nhưng họ cũng chỉ là tổ chức tư vấn và chịu trách nhiệm rất hữu hạn với các báo cáo của nhân viên mình. Đặc biệt mỗi báo cáo là quan niệm của riêng một cá nhân phân tích nên yếu tố chủ quan rất cao, nhất là trong điều kiện họ thiếu thông tin và phải phân tích từ xa.
Ông Hải cho biết Fitch không trao đổi hay yêu cầu cung cấp số liệu bổ sung hoặc chi tiết khi thực hiện đánh giá định mức tín nhiệm của ACB. Có thể họ chỉ thu thập thông tin của các ngân hàng lớn nhất VN thông qua báo cáo thường niên và phương tiện thông tin đại chúng là các số liệu tổng hợp, không chi tiết để đánh giá.
Ông Hải cũng cho rằng cần có cơ chế trao đổi thông tin nhanh và đầy đủ hơn để có thể hỗ trợ công tác phân tích và tư vấn của các tổ chức như Fitch được tốt hơn, và hệ thống ngân hàng VN có điều kiện được nghe những ý kiến đánh giá khách quan và chuyên nghiệp một cách đúng đắn hơn.
Trong khi đó, VCB cho biết đang nỗ lực tăng vốn điều lệ, đồng thời cơ cấu lại các nguồn vốn nhằm đảm bảo yêu cầu về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu mới. Từ năm 2010 VCB đã điều chỉnh việc phân loại nợ xấu theo hướng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế.
Vì thế, hạng mức tín nhiệm sẽ được cải thiện khi ngân hàng tăng thêm vốn cũng như xử lý các vấn đề tài chính.
Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hiện nay NLSH được sử dụng phổ biến ở hơn 50 quốc gia trên thế giới. Các nước Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu đều có kế hoạch sản xuất nhiên liệu thay thế ở quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng NLSH ngày càng tăng.
Trao đổi giữa PV với ông Lý Trường Chiến - chuyên gia cao cấp tư vấn chiến lược quản trị & kinh doanh, thành viên Hội đồng Tư vấn quản trị quốc tế (ICMC - International Committee Management Consultancy), bên lề hội thảo về tàu điện một ray.
Ông Jerril G. Santos, Đại sứ Philippines tại Việt Nam, trao đổi với phóng viên về tiềm năng và quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia.
Theo ông Phùng Đắc Lộc, Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm, các doanh nghiệp khi mua bảo hiểm nên có nhà tư vấn có chuyên môn để tránh bị “mắc cạn” trong các hợp động bảo hiểm, dẫn đến “tiền mất, tật mang”.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Tìm sinh viên để đưa đón, chăm sóc con cái đang trở thành nhu cầu lớn của nhiều bậc phụ huynh là công chức. Và đây là cơ hội kiếm thêm cho nhiều người, nhất là học sinh, sinh viên khi thay đổi giờ học, giờ làm.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
Việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Hiếm có Tết nào ở xứ Lạng lại khắc nghiệt và lạnh giá như năm nay. Ra ngoài đường đi xe máy nếu không đi găng tay và mang khẩu trang thì làn gió lạnh buốt cứ thổi cho rát mặt không thể chạy nổi.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.