Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Thưa ông, như ông nói "cơn sốt đất nông nghiệp tại Ba Vì đã nổi lên như một nghịch lý của quản lý". Vậy, quy hoạch Hà Nội đóng góp gì vào cơn sốt đất này?
Tôi cho rằng, cơn sốt đất phía Tây, đặc biệt là sốt đất nông nghiệp thể hiện một thị trường bất động sản thiếu chuyên nghiệp, nhà đầu tư thiếu chuyên nghiệp, hoàn toàn hành động theo tin đồn, đầu tư mạo hiểm, gây méo mó thị trường. Nếu như thị trường minh bạch hơn, cả quản lý và nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn thì đã không xảy ra tình trạng này.
Theo tôi, quy hoạch chỉ là một phần. Trên thực tế, định hướng phát triển Hà Nội về phía Tây đã được Chính phủ, lãnh đạo TP. Hà Nội quyết định từ nhiều năm nay. Và điều này lại được khẳng định lần nữa trong quy hoạch Hà Nội mở rộng vừa qua. Sốt đất ở Ba Vì có thể là do kỳ vọng của nhà đầu tư vào khu vực này, trong khi giá đất ở đây còn thấp. Tuy nhiên, sau khi các phương tiện thông tin đại chúng đưa ra công luận về hiện trạng quy hoạch, thì sốt đất Ba Vì đã lập tức hạ nhiệt.
Như vậy có thể thấy, thị trường BĐS phía Tây Hà Nội sẽ còn nóng trong thời gian tới? Thị trường đã đẩy giá đất lên tương đối cao, theo ông thời gian tới giá đất có còn tăng không?
Như tôi đã nói trên, do kỳ vọng của nhà đầu tư về khả năng sinh lời của BĐS trong tương lai nên đón đầu quy hoạch, hơn nữa so với giá đất khu vực nội thành Hà Nội thì giá đất Ba Vì thấp hơn rất nhiều. Vì vậy, người dân đổ xô vào khu vực này sẽ khiến giá đất bị đẩy lên. Tuy nhiên, nếu giá đất bị đẩy lên cao quá thì có thể sẽ là khởi điểm của một cuộc thoái lui, kéo theo giá BĐS ở Hà Nội đi xuống. Thị trường Hà Nội dù sao vẫn thiếu minh bạch hơn thị trường TP. HCM, nên có nhiều cầu ảo, thậm chí nhiều dự án hoàn toàn không có giao dịch vì đã được mua đi đổi lại nhiều lần trên giấy trước khi ra hàng.
Vậy, ông đánh giá như thế nào khi các nhà đầu tư nước ngoài cũng huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước để xây dựng dự án, lấy "mỡ nó rán nó"?
Hiện nay, đây là một thực tế đáng buồn, vì chúng ta hy vọng các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có mang lại cho chúng ta vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ tiên tiến, thì ngược lại, họ đang học rất nhiều từ các nhà đầu tư trong nước, khi huy động vốn của người dân Việt Nam, sau đó làm nhà để bán giá cao cho người dân Việt Nam. Thực tế này có lỗi từ các cơ quan quản lý, đã không đưa ra được những giải pháp để khống chế nhà đầu tư nước ngoài phải trình bày được sự ưu việt về công nghệ, về kinh nghiệm quản lý, bắt họ phải đưa tiền vào đầu tư, chứ không chỉ lấy "mỡ nó rán nó". Đây chính là sự yếu kém của chúng ta. Về lâu dài, chúng ta phải đặt ra được những rào cản kỹ thuật buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải thoả mãn thì mới được đầu tư, tất nhiên những rào cản này phải phù hợp với thông lệ quốc tế
Ông có cho rằng, hiện nay tư duy làm quy hoạch ở ta đang có "vấn đề"? Quy hoạch không chỉ phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội, mà có khi chỉ phục vụ một thiểu số nào đó?
Quy hoạch chắc chắn sẽ tác động lớn đến thị trường BĐS, bởi vậy, khi lập quy hoạch cần phải có tầm nhìn dài hạn, đồng thời phải quan tâm đến tính khả thi của quy hoạch, vì sự phát triển chung, lợi ích chung của cộng đồng. Song cũng không ngoại trừ, quy hoạch có thể là ý tưởng của một nhiệm kỳ nào đó, muốn nó phải thế này, cũng có thể là ý tưởng của một cá nhân nào đó, muốn nó phải thế kia. Tôi cho đã xây dựng quy hoạch thì phải phục vụ số đông, cho tương lai lâu dài của thành phố, của cả nước. Như chúng ta đều biết, quy hoạch là một việc, nhưng khi áp dụng vào thực tế lại là việc khác. Lịch sử Hà Nội đã chứng kiến rất nhiều bản quy hoạch tổng thể, do tư vấn nước ngoài lập rất bài bản, nhưng chẳng có quy hoạch nào được thực thi một cách nghiêm túc, kể cả nguyên nhân về vốn. Vì vậy, không thể sử dụng giải pháp "giật gấu vá vai" trong thực hiện quy hoạch.
Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hiện nay NLSH được sử dụng phổ biến ở hơn 50 quốc gia trên thế giới. Các nước Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu đều có kế hoạch sản xuất nhiên liệu thay thế ở quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng NLSH ngày càng tăng.
Trao đổi giữa PV với ông Lý Trường Chiến - chuyên gia cao cấp tư vấn chiến lược quản trị & kinh doanh, thành viên Hội đồng Tư vấn quản trị quốc tế (ICMC - International Committee Management Consultancy), bên lề hội thảo về tàu điện một ray.
Ông Jerril G. Santos, Đại sứ Philippines tại Việt Nam, trao đổi với phóng viên về tiềm năng và quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, tư duy kinh tế chỉ huy còn phổ biến thì không nên đặt vấn đề sử dụng tài sản quốc gia (dù là tiền thuế của dân hay đất đai của công) để khuyến khích phát triển công nghiệp một cách tham vọng, vì điều đó sẽ chỉ dẫn tới sự lãng phí.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Tìm sinh viên để đưa đón, chăm sóc con cái đang trở thành nhu cầu lớn của nhiều bậc phụ huynh là công chức. Và đây là cơ hội kiếm thêm cho nhiều người, nhất là học sinh, sinh viên khi thay đổi giờ học, giờ làm.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
Việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Hiếm có Tết nào ở xứ Lạng lại khắc nghiệt và lạnh giá như năm nay. Ra ngoài đường đi xe máy nếu không đi găng tay và mang khẩu trang thì làn gió lạnh buốt cứ thổi cho rát mặt không thể chạy nổi.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.