Trọng tâm hay ưu tiên hàng đầu phải là nâng cao được năng suất và hiệu quả, “chất” phải dần dần thay thế “lượng”.
“Cuộc khủng hoảng đã bộc lộ những yếu kém của kinh tế Việt Nam. Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng. Nếu không, càng tăng trưởng có thể Việt Nam sẽ càng nghèo đi. Tái cấu trúc chính là chìa khóa để thoát cái bẫy tăng trưởng thiếu bền vững”.
Đó là nhận định của ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khi trao đổi với chúng tôi xung quanh chủ đề tái cấu trúc nền kinh tế.
Thời điểm này chính là cơ hội để Việt Nam “chỉnh đốn, cơ cấu” lại nền kinh tế là khuyến cáo của nhiều chuyên gia hiện nay. Là một trong những người được giao trách nhiêm trong việc xây dựng Đề án Tái cấu trúc nền kinh tế, ông có thể chia sẻ thêm về điều này thế nào?
Cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng lượng vốn đầu tư với hiệu quả đầu tư chưa thật sự cao, GDP chủ yếu vẫn từ các ngành khai thác tài nguyên. Trong số 26 sản phẩm, nhóm sản phẩm có đóng góp từ 1% GDP trở lên thì đại bộ phận từ khu vực I (các loại cây nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, dầu thô...).
Các sản phẩm công nghiệp chế tác hầu như không đáng kể; dịch vụ ngân hàng, tài chính, tín dụng có tỷ trọng nhỏ; dịch vụ giáo dục giảm; dịch vụ bảo hiểm hầu như không thay đổi. Trong số 21 sản phẩm, nhóm sản phẩm có đóng góp từ 0,5 đến 1% GDP thì một nửa trong đó là các sản phẩm sơ chế, có dịch vụ khoa học công nghệ nhưng đóng góp vào GDP chỉ ngang bằng dịch vụ... xổ số. Hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp, có xu hướng giảm.
Cùng với đó, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chậm, chưa có các ngành chủ lực mới, trình độ phát triển công nghiệp thấp, công nghệ là rất ít với quy mô còn rất nhỏ. Các loại dịch vụ phát triển kinh doanh có quy mô nhỏ và có xu hướng giảm hoặc không thay đổi.
Khu vực tư nhân chính quy trong nước còn quá nhỏ, hợp tác xã còn lại không đáng kể, khu vực lao động phi chính thức còn lớn với gần 80% lao động cả nước; phân bố lao động mất cân đối khi khu vực nhà nước chiếm hơn 43% GDP, 34% tổng đầu tư và hơn 20% giá trị sản xuất công nghiệp nhưng chỉ có 9% lao động.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có gần 4% lao động và 86% lao động ở ngoài Nhà nước. Đại bộ phận dân cư đang sống và làm việc trong khu vực phi chính thức, sản xuất nhỏ và phân tán.
Bên cạnh đó, ông còn những nhận định gì khác xung quanh bài toán tái cấu trúc nền kinh tế của chúng ta hiện nay?
Một câu hỏi lớn mà tôi còn đang rất trăn trở là thực chất có kinh tế vùng không? Vì thực tế cho thấy kinh tế vùng chỉ có tính chất thống kê. Hiện chỉ có kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Xét về cơ cấu, nước ta có 64 “nền kinh tế”.
Đó là 63 kinh tế địa phương và một nền kinh tế Trung ương. Đòn bẩy, chính sách kinh tế tương tự nhau, chạy theo cơ cấu kinh tế tương tự nhau với vai trò của các ngành kinh tế tương tự nhau như xi măng lò đứng; đường; thép từ Cao Bằng tới Cà Mau...
Mặt khác, cơ cấu vùng kinh tế hình thành theo cơ chế thị trường, lan tỏa xung quanh Hà Nội và Tp.HCM. Mức độ kinh doanh tập trung ngày càng lớn ở Hà Nội, Tp.HCM và một số tỉnh xung quanh. Các nỗ lực phát triển cân bằng giữa các vùng không đạt kết quả như mong muốn. Các địa phương không phát triển kinh tế dựa trên lợi thế của mình mà cạnh tranh nhau theo kiểu cùng đi về...đáy.
Vậy các vấn đề chiến lược cần phải suy nghĩ lúc này là gì, thưa ông?
Rõ ràng, mô hình, cách thức tăng trưởng hiện nay đã tới giới hạn của nó. Chuyển đổi mô hình đã trở thành “mệnh lệnh”. Trọng tâm hay ưu tiên hàng đầu phải là nâng cao được năng suất và hiệu quả, “chất” phải dần dần thay thế “lượng”.
Chú trọng chất lượng khu vực nhà nước là yếu tố quyết định. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phải có chất lượng cao hơn theo hướng lao động rẻ, phổ thông ít hơn, tiêu hao và khai thác tài nguyên ít hơn, yêu cầu đất đai ít hơn...
Khu vực kinh tế tư nhân trong nước phải có bước phát triển đột phá để trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, phát triển khu vực công ty, giảm mạnh khu vực phi chính thức.
Phát triển phải cân bằng hơn giữa trong nước và ngoài nước, giữa các ngành nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ không chạy theo những chỉ tiêu định lượng thiếu căn cứ khoa học, làm cơ cấu kinh tế thêm sai lệch.
Giữa các vùng, khắc phục nguy cơ tiếp tục tập trung quá mức các hoạt động kinh tế và dân cư ở Hà Nội và Tp.HCM, chú ý liên kết phối hợp giữa các vùng, thay vì cạnh tranh, chia cắt và phân tán như hiện nay. Giữa khu vực kinh tế thực và khu vực tài chính, mở rộng và phát triển hệ thống tài chính, nhưng tránh hoặc hạn chế được bong bóng...
Mặc dù giữ một vị thế đặc biệt quan trọng trên thị trường vốn bên cạnh chứng khoán vốn và ngân hàng nhưng hiện tại, hoạt động của thị trường trái phiếu còn manh mún, rời rạc và chưa xứng tầm.
Đã hơn hai năm Việt Nam làm thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một khoảng thời gian đủ để mỗi doanh nghiệp tự đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của mình trước sức ép ngày càng tăng từ việc tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường trong nước.
Trong số 2.017 làng nghề trên cả nước, với khoảng 11 triệu lao động, thì có tới 50% làng nghề phải thu hẹp, hoặc ngừng sản xuất. Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, để thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề một cách bền vững, cần nhiều giải pháp đột phá.
Việt Nam sẽ phải đạt kim ngạch gần 6,5 tỉ đô la Mỹ (khoảng 111.150 tỉ đồng) cho mỗi tháng còn lại của năm 2009 thì mới đạt chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu gần 65 tỉ đô la Mỹ, tăng 3% so với năm 2008. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng chỉ tiêu này rất khó đạt được trong tình hình hiện nay.
Dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ do Cục Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Quan điểm trên được ông Vũ Văn Phấn, Trưởng văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, đưa ra khi trao đổi với báo giới xung quanh dự thảo Luật Thuế nhà đất đang được Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến các bên liên quan.
Khẳng định trên được Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú đưa ra, khi trao đổi với báo giới xung quanh những phản hồi của dư luận về tính minh bạch trong giá thành và các chi phí đầu vào của hoạt động kinh doanh xăng dầu trong thời gian qua.
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, Trung Quốc vẫn là một nền kinh tế có mức độ tăng trưởng dẫn đầu thế giới. Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc có sức thu hút lớn đối với doanh nghiệp nhiều nước.
Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Lê Đức Thúy lại cho rằng: nên có một gói "đệm" để cho nền kinh tế “hạ cánh mềm”, tránh được những cú sốc không đáng có.
“Kích cầu tiêu dùng nội địa thực sự được kỳ vọng rất nhiều… Vấn đề là thiết kế như thế nào để phát huy được tiềm năng”, bà Phạm Chi Lan nói.
Trao đổi với báo chí ngày 21/8, ông Đinh Văn Nhã, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội cho rằng, việc tái cơ cấu nền kinh tế phải tính toán kỹ và không thể thực hiện trong một năm.
Với mục tiêu “khiêm tốn” hơn, kim ngạch xuất khẩu tương tự năm 2008, như đã được đề cập tại “Khung kế hoạch phát triển kinh tế xã hội” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra gần đây, vẫn có những khả năng sẽ không đạt.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Tổng quỹ đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị hiện đang quản lý và sử dụng khoảng 1.512,8 triệu m2 với tổng giá trị trên 597 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,50% tổng giá trị toàn bộ tài sản nhà nước là con số tại báo cáo mới nhất của Chính phủ gửi Quốc hội.
Khoảng 2.000 việc làm chính thức và 1.000 việc làm bán thời gian đã được khoảng 45 doanh nghiệp trong và ngoài nước tuyển dụng tại ngày hội việc làm do Câu lạc bộ Nguồn lực trẻ trường Đại học Ngoại thương Hà Nội tổ chức. Số đầu việc này không giảm so với sự kiện năm 2011.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.