Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm: Chuyến thăm góp phần đưa quan hệ Việt- Trung bước vào một giai đoạn phát triển mới và đóng góp tích cực cho sự hợp tác Á - Âu
Chiều ngày 25/10, sau khi Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Trung Quốc và dự Hội nghị cấp cao ASEM 7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã trả lời phỏng vấn các nhà báo Việt Nam tháp tùng Đoàn. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng gửi tới bạn đọc nội dung bài trả lời phỏng vấn của Phó Thủ tướng.
Phóng viên: Chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc lần này của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kết thúc tốt đẹp. Xin Phó Thủ tướng cho biết những kết quả cụ thể của chuyến thăm?
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm: Trong chuyến thăm lần này, ngay từ khi tới thăm tỉnh Hải Nam - tỉnh cực Nam của Trung Quốc giáp với Việt Nam cũng như trong suốt thời gian chuyến thăm, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu chính phủ Việt nam đã cảm nhận rất rõ sự phát triển kỳ diệu, sức vươn lên mạnh mẽ của đất nước Trung Quốc cũng như sự đón tiếp trọng thị và hữu nghị của các đồng chí Lãnh đạo Trung Quốc.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có các cuộc trao đổi xây dựng, thẳng thắn, chân thành, hữu nghị với các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc về quan hệ song phương, những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm. Kết quả bao trùm của chuyến thăm là hai bên đã đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về các biện pháp cụ thể hoá quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thể hiện trên một số lĩnh vực sau:
Một là, về chính trị, hai bên đều nhất trí tiếp tục duy trì các chuyến thăm và gặp gỡ cấp cao dưới nhiều hình thức như đi thăm, gặp gỡ bên lề hội nghị, trao đổi thông qua đường dây nóng, làm sâu sắc thêm hiểu biết và sự tin cậy lẫn nhau ở tầm cao giữa hai nước; phát huy đầy đủ vai trò của các cơ chế hợp tác hiện có, nhất là Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc và cơ chế hợp tác giữa các ngành chủ chốt như Ngoại giao, An ninh, Quốc phòng … mở rộng hợp tác giữa các địa phương, nhất là các địa phương biên giới hai nước.
Hai là, về kinh tế thương mại, hai bên đề ra mục tiêu mới nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2010. Thủ tướng Ôn Gia Bảo bày tỏ coi trọng việc giải quyết vấn đề mất cân bằng mậu dịch, bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu. Hai bên cũng thỏa thuận sớm hoàn tất và triển khai Quy hoạch 5 năm hợp tác kinh tế thương mại nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế thương mại, hợp tác đầu tư, du lịch giữa hai nước, tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ chính trị phát triển.
Tại các diễn đàn kinh tế thương mại ở Bắc Kinh và Hải Nam, doanh nghiệp Trung Quốc tham dự đông đảo và bày tỏ mong muốn đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại cùng có lợi với Việt Nam trong thời gian tới.
Ba là, về vấn đề biên giới lãnh thổ, hai bên đánh giá cao việc cơ bản hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên bộ; khẳng định quyết tâm sẽ hoàn thành toàn bộ công tác này trong năm 2008 như thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao hai nước, đồng thời yêu cầu các ngành và địa phương hữu quan hai nước khẩn trương hoàn tất các công việc còn lại để sớm đưa Hiệp ước Biên giới trên đất liền vào cuộc sống.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã trao đổi với tinh thần xây dựng, thẳng thắn với các đồng chí Lãnh đạo Trung quốc về vấn đề Biển Đông, nêu rõ lập trường và chính sách nhất quán của Việt Nam trong vấn đề này, đồng thời bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác trên biển với Trung Quốc, góp phần vào hòa bình ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Bốn là, hai bên nhất trí mở rộng giao lưu nhân dân; tăng cường công tác tuyên truyền về tình hữu nghị Việt - Trung trong nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ; nhất trí cùng phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm 60 năm Quốc khánh Trung Quốc vào năm 2009, kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt-Trung, 65 năm Quốc khánh Việt Nam vào năm 2010 góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Năm là, hai bên đã nhất trí tiếp tục hợp tác và phối hợp chặt chẽ hơn nữa tại Liên Hợp Quốc và các diễn đàn khu vực, quốc tế, đóng góp nhiều hơn nữa vào việc duy trì hòa bình ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Nhân dịp này, hai bên ký 8 Hiệp định và Thỏa thuận song phương, trong đó có Hiệp định thiết lập đường dây nóng, Hiệp định kiểm dịch y tế biên giới; Hiệp định khung về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng; Thỏa thuận về xây dựng khu kinh tế - thương mại Trung Quốc tại thành phố Hải Phòng; Thỏa thuận về hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Công ty Dầu khí hải dương quốc gia Trung Quốc và một số thỏa thuận hợp đồng kinh tế khác…
Với kết quả như trên, có thể nói chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần đưa quan hệ Việt – Trung bước vào một giai đoạn phát triển mới. Chuyến thăm đã một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc.
Phóng viên: Xin Phó Thủ tướng cho biết triển vọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian tới?
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước vốn có truyền thống hữu nghị lâu đời, đã từng sát cánh bên nhau, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Hiện nay, hai nước đều đang dốc sức tiến hành công cuộc đổi mới và cải cách mở cửa nhằm xây dựng đất nước mình ngày càng phồn vinh và thịnh vượng. Có thể nói hai nước Việt - Trung có nhiều lợi ích chung chiến lược và có nhiều cơ sở vững chắc để tăng cường và mở rộng hơn nữa quan hệ trên mọi lĩnh vực.
Với quyết tâm, nỗ lực chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước và việc triển khai hiệu quả các biện pháp cụ thể như trên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung chắc chắn sẽ không ngừng được củng cố và phát triển theo phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, thực sự trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, đáp ứng lợi ích căn bản và nguyện vọng thiết tha của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á và trên thế giới.
Xin Phó Thủ tướng cho biết đánh giá về kết quả của Hội nghị Cấp cao ASEM 7 tại Bắc Kinh?
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm: Với sự chuẩn bị chu đáo và công tác tổ chức tuyệt vời của nước chủ nhà Trung Quốc, Hội nghị Cấp cao ASEM 7 với chủ đề “Tầm nhìn và Hành động: Tiến tới giải pháp cùng có lợi” đã thành công tốt đẹp, một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng chiến lược của hợp tác ASEM trong tình hình quốc tế hiện nay. Có thể tóm lược kết quả chính của Hội nghị như sau:
Một là, với việc thông qua 4 văn kiện Tuyên bố Chủ tịch, Tuyên bố của ASEM 7 về tình hình tài chính thế giới, Tuyên bố Bắc Kinh về phát triển bền vững, Khuôn khổ hợp tác Á-Âu sửa đổi, Hội nghị Cấp cao ASEM 7 đánh dấu một bước phát triển mới của tiến trình ASEM, nêu bật quyết tâm và đề ra phương hướng cụ thể làm cho hợp tác trong ASEM trở nên sâu sắc, thiết thực và hiệu quả hơn, để có thể đối phó hiệu quả với những diễn biến phức tạp trên thế giới và các thách thức trong tương lai. Các nhà Lãnh đạo khẳng định nguyên tắc đối thoại và hợp tác Á-Âu trên cơ sở đối tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi, tìm kiếm điểm tương đồng, tăng cường đối thoại văn hóa – văn minh; ủng hộ chủ nghĩa đa phương và một hệ thống đa phương quốc tế với Liên Hợp Quốc là trung tâm, ủng hộ giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp quốc tế. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tính cấp thiết của việc tăng cường các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững và kêu gọi hợp tác trong các lĩnh vực an ninh lương thực, năng lượng, biến đổi khí hậu, thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Đặc biệt, trong tình hình khủng hoảng tài chính tại Mỹ lan rộng, các nhà Lãnh đạo Á - Âu đã nhất trí cần tăng cường phối hợp quốc tế, củng cố hệ thống tài chính – ngân hàng trong từng nước cũng như trong khuôn khổ toàn cầu, và cần điều chỉnh vai trò của các thể chế tài chính quốc tế, kể cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), cho phù hợp với tình hình mới.
Hai là, tiếp theo lần mở rộng đầu tiên tại ASEM 5 - Hà Nội, Hội nghị lần này chính thức kết nạp thêm 6 thành viên: Ấn Độ, Pakistan, Mông Cổ, Bungary, Rumani và Ban Thư ký ASEAN, đưa ASEM thành diễn đàn liên kết với 58% dân số, 50% GDP và 60% thương mại thế giới.
Ba là, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến phức tạp, các vị Lãnh đạo kêu gọi thúc đẩy thực hiện hợp tác kinh tế Á-Âu theo tinh thần của Tuyên bố Hà Nội về Quan hệ Đối tác Kinh tế ASEM chặt chẽ hơn (CEP) và cam kết tích cực hợp tác cùng giải quyết khủng hoảng đồng thời vẫn đảm bảo mức viện trợ phát triển chính thức (ODA), xóa nợ và điều chỉnh nợ cho các nước nghèo. Hội nghị bày tỏ sự ủng hộ hệ thống thương mại đa phương mở, công bằng, ổn định, vận hành theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sớm nối lại đàm phán Đô-ha.
Bốn là, Hội nghị đã thông qua một số sáng kiến quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, y tế, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thành phố sinh thái, thương mại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín ngưỡng và an ninh quốc gia. Trong đó Việt Nam đề xuất 3 sáng kiến và đồng tác giả 2 sáng kiến khác.
Nước chủ nhà Trung Quốc đã đóng vai trò rất quan trọng vào thành công của Hội nghị, tạo dấu ấn Bắc Kinh trong tiến trình phát triển của ASEM.
Phóng viên: Xin Phó Thủ tướng cho biết những đóng góp tích cực của Việt Nam trong tiến trình ASEM nói chung và tại Hội nghị Cấp cao ASEM 7 nói riêng?
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm: Là một thành viên sáng lập của ASEM, Việt Nam đã phát huy vai trò, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào tiến trình hợp tác Á-Âu trên cả 3 trụ cột: đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và văn hóa – xã hội, góp phần thúc đẩy ASEM phát triển đúng hướng, phù hợp với những mục tiêu và nguyên tắc đã được xác định. Trong tiến trình phát triển của ASEM vừa qua, đóng góp lớn nhất của Việt Nam là việc tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEM lần thứ 5, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử với việc kết nạp thêm 3 nước châu Á và 10 nước châu Âu, thông qua Tuyên bố Hà Nội về Quan hệ đối tác kinh tế Á-Âu chặt chẽ hơn (CEP) định hướng cho hợp tác kinh tế trong ASEM. Một trong những đóng góp nổi bật khác của Việt Nam là đã sớm xác định lĩnh vực ưu tiên tham gia trong ASEM, đó là văn hóa - du lịch, giáo dục - nhân lực và kiểm soát dịch bệnh, thúc đẩy hợp tác ASEM phát triển, giúp hoạt động của ASEM đi vào thực chất và hiệu quả hơn.
Tại Hội nghị ASEM 7, Đoàn Việt Nam đã tích cực cùng các thành viên khác trao đổi, tìm ra phương hướng để hợp tác ASEM sâu sắc và thực chất hơn trên mọi lĩnh vực. Đoàn ta đã tích cực thúc đẩy nội dung hợp tác văn hóa, giáo dục, y tế và đối phó với biến đổi khí hậu trong ASEM, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đối thoại giữa các nền văn hóa – văn minh trong việc giảm khác biệt, tạo dựng lòng tin, hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các quốc gia và khu vực. Các vị Lãnh đạo các quốc gia thành viên đã đánh giá cao và thông qua 3 sáng kiến Việt Nam đưa ra tại Hội nghị, đó là Phối hợp các hoạt động văn hoá nhằm tăng cường quảng bá hình ảnh ASEM, An ninh lương thực và Trao đổi kinh nghiệm về sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu và các bệnh mới nổi.
Trên cơ sở những đóng góp của Việt Nam từ trước đến nay, đặc biệt trên cương vị hiện tại là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và chủ nhà của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á-Âu lần thứ 9 (FMM9, Hà Nội, tháng 5/2009), các thành viên ASEM trông đợi và tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực hơn nữa vào hợp tác Á-Âu trong tương lai./.
Bên lề cuộc tọa đàm "Quản lý gian lận và các giải pháp phòng chống gian lận" do Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và Công ty TNHH Ernst &Young Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây, ĐTCK đã có cuộc phỏng vấn ông Petrus Gimbad, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn rủi ro, Công ty Ernst & Young Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Ngân hàng cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sẽ có những thay đổi gì khi HSBC nâng tỷ lệ nắm giữ tại ngân hàng này lên 20%. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch HĐQT Techcombank
Hiện nay số vốn vay của Tập đoàn Công nghiệp tàu Thuỷ (Vinashin) lên tới 2 tỷ USD, nhiều ý kiến lo ngại số vốn vay gấp nhiều lần vốn sở hữu, hoạt động của Vinashin có hiệu quả? Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinashin đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.
Tạo tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài bằng sự ổn định của tình hình kinh tế, tài chính và phải làm tăng lợi suất của thị trường chứng khoán... TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Trên con đường tái cấu trúc, các tổ chức tín dụng không đi một mình. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và yêu cầu thực hiện ngay từ đầu năm 2012 này.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, tư duy kinh tế chỉ huy còn phổ biến thì không nên đặt vấn đề sử dụng tài sản quốc gia (dù là tiền thuế của dân hay đất đai của công) để khuyến khích phát triển công nghiệp một cách tham vọng, vì điều đó sẽ chỉ dẫn tới sự lãng phí.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Tìm sinh viên để đưa đón, chăm sóc con cái đang trở thành nhu cầu lớn của nhiều bậc phụ huynh là công chức. Và đây là cơ hội kiếm thêm cho nhiều người, nhất là học sinh, sinh viên khi thay đổi giờ học, giờ làm.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
Việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.