Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Ông Nguyễn Bá Minh, chuyên gia phân tích nhóm hàng nông sản của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn đã đưa ra dự báo về đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trong bối cảnh trên.
Nhiều tổ chức trên thế giới quan ngại rằng trong năm nay sẽ xảy ra khủng hoảng giá lương thực như năm 2008. Theo ông, điều này có cơ sở hay không?
- Năm nay, giá lúa mì thế giới tăng đến mức kỷ lục, kéo theo các loại nông sản khác như bắp, đậu nành cũng tăng giá. Nga đã ban bố lệnh tạm ngừng xuất khẩu lúa mì. Ukraine cũng giảm lượng xuất khẩu. Trung Quốc thì tăng tích trữ lương thực.
Mặt khác, với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhiều nguy cơ những tháng cuối năm diễn biến thời tiết có thể sẽ còn nhiều bất lợi cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, lo ngại về khủng hoảng lương thực thế giới năm nay là chưa đủ cơ sở. Dù thời tiết làm giảm sản lượng lương thực ở nhiều quốc gia nhưng tại các quốc gia hàng đầu về xuất khẩu lương thực như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ… nguồn cung lương thực vẫn đảm bảo, đủ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Xuất khẩu lúa mì của Mỹ đã lên tới 1 triệu tấn chỉ hai tuần sau khi Nga tuyên bố tạm ngưng xuất khẩu lúa mì. Xuất khẩu bắp và đậu nành của nước này cũng tăng khi mà nhu cầu tại Trung Quốc đang lên cao. Tại Ấn Độ lượng dự trữ nông sản vẫn rất lớn, thậm chí nước này còn cho biết có thể sẽ thiếu kho để chứa lúa mì. Sản lượng lương thực của Ấn Độ niên vụ này đạt kỉ lục, 80,71 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái là 80,68 triệu tấn. Tổng sản lượng lúa của Trung Quốc trong năm 2010 dự báo đạt 197,3 triệu tấn cùng với khối lượng dự trữ khổng lồ (41 triệu tấn), chiếm gần 10% tổng sản lượng gạo thế giới cho thấy Trung Quốc rất an toàn về an ninh lương thực.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng lúa mì thế giới niên vụ 2010-2011 sẽ giảm 1,7%, xuống còn 650 triệu tấn. Dù giảm nhưng sản lượng lúa mì năm nay sẽ vẫn đứng thứ ba trong lịch sử sau hai năm sản xuất bùng nổ. Tại các thị trường giao dịch quốc tế, với những tín hiệu tốt vừa qua, giá lúa mì và đậu nành đang đảo chiều giảm giá và có xu hướng bình ổn. Nên theo tôi, khủng hoảng giá lương thực rất khó có khả năng xảy ra.
Việt Nam đang nhập khẩu lượng lớn lúa mì và nhiều loại ngũ cốc như bắp, đậu nành… thì việc tăng giá các mặt hàng trên thị trường thế giới sẽ tác động đến giá các nông sản trong nước như thế nào, đặc biệt là lúa gạo?
- Trước biến động giá lương thực trên thế giới, với mức giá cao như hiện nay, có nhiều khả năng từ tháng 8 trở đi nhập khẩu ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ giảm.
Theo tôi, trong nước ít chịu tác động bởi ngoài lúa mì còn có các nguyên liệu thay thế khác như bắp, đậu nành,… Trong nước, 6 tháng đầu năm, tình hình dịch bệnh lây lan trên gia súc, gia cầm, thủy sản, làm cho cầu về thức ăn chăn nuôi không cao.
Riêng với mặt hàng gạo, sản lượng lúa của Việt Nam trong năm 2010 dự đoán vẫn đạt mức 39 triệu tấn, mục tiêu xuất khẩu gạo ở mức 6 đến 6,5 triệu tấn. Do diễn biến của thị trường quốc tế, giá gạo có xu hướng tăng nhẹ.
Về thị trường lúa gạo, hiện nay thị trường gạo chỉ đang “sốt” ảo do ảnh hưởng từ giá lúa mì và các loại ngũ cốc khác. Khi giá lương thực thế giới giảm xuống, giá gạo cũng sẽ ở mức cân bằng. Từ nay đến cuối năm, giá gạo có thể tăng nhẹ nhưng khó có thể có đột biến.
Nguyên nhân chính là cung-cầu lúa gạo trên thế giới hiện vẫn đang cân bằng. Một số nước xuất khẩu gạo chính vẫn đang duy trì mức dự trữ gạo cao. Nền kinh tế thế giới đang phục hồi chậm, nên cầu về lúa gạo ở một số quốc gia có thể tăng nhưng không có nhiều đột biến. Do đó, nhìn chung giá gạo sẽ không bị đẩy lên cao.
Với tình hình giá lương thực dự báo sẽ tiếp tục tăng, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp sẽ như thế nào, thưa ông?
- Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chắc chắn sẽ được cải thiện khi tình hình giá lương thực được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tiếp theo, mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà xuất khẩu lương thực và thúc đẩy các nước tăng sản lượng để đảm bảo an ninh lương thực.
Ở nước ta, hiện nay đầu tư cho nông nghiệp vẫn đang duy trì ở mức 7% GDP. Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã đạt đến mức 10 tỉ đô la Mỹ, chiếm 26,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2009 là 15 tỉ đô la). Đầu tư vào nông nghiệp vẫn được khuyến khích về mặt định hướng, chính sách nhưng trong thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều rủi ro, lợi nhuận mang về cho nông dân và nhà đầu tư chưa cao do phụ thuộc vào yếu tố như thời tiết, biến đổi khí hậu, chi phối bởi giá thị trường thế giới...
Theo tôi, đầu tư của tổ chức, cá nhân vào lĩnh vực nông nghiệp sẽ tăng lên khi nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội từ việc giá nông sản tăng, nhưng về mức độ thì phải theo dõi trong thời gian tới.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Trong thời gian qua, đã có nhiều dự án bị rút giấy phép, trong đó có những dự án lên tới vài tỷ USD.Nhiều chuyên gia lên tiếng về hiện tượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu bất ổn.
Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hiện nay NLSH được sử dụng phổ biến ở hơn 50 quốc gia trên thế giới. Các nước Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu đều có kế hoạch sản xuất nhiên liệu thay thế ở quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng NLSH ngày càng tăng.
Trao đổi giữa PV với ông Lý Trường Chiến - chuyên gia cao cấp tư vấn chiến lược quản trị & kinh doanh, thành viên Hội đồng Tư vấn quản trị quốc tế (ICMC - International Committee Management Consultancy), bên lề hội thảo về tàu điện một ray.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Tìm sinh viên để đưa đón, chăm sóc con cái đang trở thành nhu cầu lớn của nhiều bậc phụ huynh là công chức. Và đây là cơ hội kiếm thêm cho nhiều người, nhất là học sinh, sinh viên khi thay đổi giờ học, giờ làm.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
Việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Hiếm có Tết nào ở xứ Lạng lại khắc nghiệt và lạnh giá như năm nay. Ra ngoài đường đi xe máy nếu không đi găng tay và mang khẩu trang thì làn gió lạnh buốt cứ thổi cho rát mặt không thể chạy nổi.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.