Đằng sau con số tăng trưởng GDP năm 2009 (Theo Anh Quân // Vneconomy)
Các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đóng góp lớn vào mức tăng trưởng GDP.
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32% với lạm phát được kiềm chế dưới 7%. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định.
Tuy nhiên, tăng trưởng được dẫn dắt bởi đầu tư đã khiến bội chi và thâm hụt ngân sách tăng cao. Thêm vào đó, mức tăng cung tiền lớn liệu có đẩy rủi ro lạm phát sang năm tới?
Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường lưu ý một vài con số khác trong các cân đối liên quan đến GDP, bên lề buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2009 sáng 31/12.
Ông Cường nói:
- GDP tính theo tổng cầu thì tiêu dùng cuối cùng tăng 4,19%, trong đó tiêu dùng của nhà nước tăng 7,6%, tiêu dùng của hộ gia đình tăng 3,85%; tích lũy tài sản tăng 4,31%; xuất khẩu tăng 11,08%, nhập khẩu tăng 6,66%.
Lưu ý khi sử dụng con số xuất nhập khẩu là về mặt giá trị, xuất khẩu giảm 9,7%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá, mà năm nay giá xuất khẩu giảm trên 10%, về mặt lượng xuất khẩu tăng, nhập khẩu cũng tăng.
Ở đây có một diễn biến rất đáng quan tâm. Trong quý 1/2009, tiêu dùng cuối cùng tăng trưởng âm. "Sâu" nhất là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, âm đến 9,3%, nhưng sang quý 2 bắt đầu tăng lên 3,8%; quý 3 lên 8,4%; và quý 4 tăng 9,3%. Vì thế, cả năm tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình mới giữ được 3,85%.
Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn tăng trưởng GDP. Năm trước, tiêu dùng của hộ gia đình tăng tới 9,6%, cao hơn rất nhiều mức tăng 6,18% của GDP năm 2008.
Thứ hai, tích lũy tài sản quý 1 cũng giảm rất sâu, âm 3,1% chủ yếu do lượng tồn kho cuối năm ngoái lớn, khoảng 5% GDP. Nhưng, đến quý hai bắt đầu tăng lên 1,9%; quý 3 tăng 9,6%; và quý 4 tăng 13,1%. Tính chung lại cả năm tăng 4,3%.
Trong các con số kể trên, đâu là nhân tố có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP của năm nay, thưa ông?
Đóng góp vào mức tăng 5,32% GDP của năm nay, tiêu dùng cuối cùng là nhiều nhất, tới 49%; sau đó đến tích lũy tài sản 29,7%; và cuối cùng là chênh lệch xuất nhập khẩu đóng góp 21,3%.
Tính theo USD, năm nay GDP của Việt Nam đạt khoảng 91 tỷ USD, bình quân đầu người 1.055 USD. Trong khi đó, năm ngoái là 89 tỷ USD; bình quân là 1047 USD/người. Như vậy mức tăng là không đáng kể.
Cũng phải lưu ý ở đây là tỷ giá VND/USD cũng có điều chỉnh trong năm nay.
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đang giảm
Nói về mức tăng trưởng 5,32%, Tổng cục Thống kê đánh giá rằng, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp. Vậy cụ thể chỉ tiêu năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) thể hiện như thế nào trong năm nay?
Năng suất các yếu tố tổng hợp phải đến cuối quý 1/2010 mới có tính toán chính thức, nhưng khái quát chung, TFP có xu hướng giảm.
Theo tính toán của chúng tôi, giai đoạn 2004 - 2009, TFP khoảng 15,1%. Trong khi đó giai đoạn 2003 - 2008 là 15,53%. Như vậy là đóng góp vào tăng trưởng có giảm.
Tăng đầu tư có đóng góp đáng kể làm tăng GDP năm nay. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng hệ số ICOR khu vực nhà nước năm 2009 có thể lên đến 10. Tính toán của ông?
Cách tính ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư - PV) hiện nay, nhiều người chưa sử dụng đúng phương pháp, vẫn dùng tử số là đầu tư thực tế, trong khi đó mẫu số lại lấy tăng trưởng GDP theo giá so sánh năm 1994. Vì thế, vừa rồi có ý kiến cho rằng ICOR năm 2009 cỡ khoảng 8,6 là không đúng. Chúng tôi tính là 5,16.
Theo quy định quốc tế, ICOR phải tính bằng giá trị thuần vốn tài sản tại thời điểm cuối năm nghiên cứu (không kể khấu hao), trừ đi con số tương ứng thời điểm cuối năm trước, chia cho chênh lệch GDP năm trước so với năm sau, chứ không phải dùng con số tổng vốn đầu tư.
Nhưng đến hiện giờ, chưa có thông tin kiểm kê tài sản của cả nước đến thời điểm 31/12/2009, nên vẫn phải dùng tích lũy tài sản để thay thế.
Lưu ý là vốn đầu tư chỉ là nguồn tài chính bỏ ra để hình thành tài sản, còn tài sản là kết quả hình thành từ việc đầu tư đó. Ví dụ, vốn đầu tư toàn xã hội năm nay là 42,8% GDP, không có nghĩa là 704,2 nghìn tỷ vốn đầu tư là thành tài sản hết.
Năm nay, theo giá thực tế, tích lũy tài sản so với vốn đầu tư chưa đến 90%. Những năm trước còn thấp hơn. Có nghĩa là bỏ ra một đồng không có nghĩa là hình thành 1 đồng tài sản.
Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, dùng tích lũy tài sản cũng không ổn, vì tích lũy tài sản nhiều khi bị ảnh hưởng bởi tồn kho. Tồn kho càng lớn thì tích lũy tài sản càng lớn, nhưng thực chất tồn kho là sản xuất của những thời kỳ trước tồn lại do không bán được.
Năm ngoái, tồn kho so với GDP là 5,2% thì năm nay chỉ còn trên 3%. Cho nên, khi dùng tích lũy tài sản thì có sai lệch đó.
Dự kiến trong quý 1, khi thông tin tương đối đầy đủ, chúng tôi sẽ đưa số liệu chính thức về hệ số ICOR và TFP, đồng thời nêu rõ phương pháp tính của quốc tế.
Như ông nói, đầu tư đem về gần 90% tài sản tích lũy, cao hơn các năm trước. Có nghĩa là hiệu quả đầu tư đã cao hơn trước?
Điều đó chưa thể khẳng định, vì về mặt tài sản có khi chẳng tăng gì.
Ví dụ một cơn bão vào Việt Nam phá sập nhiều nhà cửa. Người dân không thể sống ngoài trời được, buộc lòng phải bỏ tiền ra xây dựng, dù là nhà tạm. Nhà nước cũng có thể bỏ tiền ra hỗ trợ, xây dựng lại cầu, cống, đường xá… Khi đó, vốn đầu tư bỏ ra chỉ là tạo lại tài sản đã có, mà chỉ tạo được một phần thôi.
Hay là con đường đang tốt, anh đào lên thì công sức và tiền của đổ ra đã làm tăng GDP rồi. Khi lấp thì động tác ấy cũng tốn tiền tốn của, cũng làm tăng GDP. Nhưng con đường đó có khi không còn tốt như con đường cũ.
Hiện giờ, tăng trưởng của ta vẫn dựa vào đầu tư. Cho nên phải làm sao cho hiệu quả đầu tư tăng lên.
Rất lưu ý lạm phát
Tổng cục Thống kê đưa con số thâm hụt ngân sách năm nay tới 7% GDP, cao hơn nhiều so với các năm trước. Theo ông, điều này dẫn tới nguy cơ gì?
Con số 7% nói trên mới chỉ là ước thôi.
Có mấy lưu ý với con số thâm hụt 7% chúng tôi đưa ra. Thứ nhất, thâm hụt ngân sách được tính toán từ con số bội chi 115,9 nghìn tỷ đồng mà Bộ Tài chính báo cáo Quốc hội tháng 11/2009, đến nay chúng tôi chưa có con số điều chỉnh.
Thứ hai, con số này lúc trước so với GDP thực tế ước tính từ tháng 9 có cao hơn so với hiện nay. Cho nên, nếu vẫn giữ con số 115,9 nghìn tỷ đồng thì bội chi ước tính là 7,04%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Nếu Bộ Tài chính tới đây điều chỉnh con số bội chi thì kết quả sẽ còn thay đổi.
Trong bối cảnh cung tiền và tín dụng tăng cao, việc GDP tăng 5,32% có tạo áp lực lạm phát?
Một trong những yếu tố làm tăng lạm phát trở lại là tăng trưởng cung tiền M2.
Nếu theo logic con số, so với năm trước tổng phương tiện thanh toán năm 2007 tăng 46,1%; tín dụng cho vay nền kinh tế tăng 53,9%; nhưng GDP theo giá thực tế chỉ tăng 17,4%.
Tức là, lượng tiền cung ra không tương xứng với lượng hàng hóa dịch vụ sản xuất của cả nước, thể hiện qua giá trị sản lượng hoặc giá trị GDP như nói trên, cho nên độ trễ lạm phát đẩy sang năm sau, tương ứng là 23% trong năm 2008.
Sang năm 2008, chính sách tiền tệ bắt đầu thắt chặt thì M2 tăng 20,3%, tín dụng tăng 23,4%; nhưng GDP thực tế tăng tới 29,2%, lạm phát năm 2009 chỉ còn 6,9%. Năm 2009, M2 tăng 28,7%; tín dụng tăng 37,7% và GDP thực tế chỉ còn tăng 11,4%.
Như vậy, theo tôi khả năng lạm phát năm sau không dưới 7%. Chúng ta rất phải lưu ý chính sách tiền tệ và bội chi. Tuy nhiên, bội chi ngân sách và tăng trưởng cung tiền cũng chưa nói hết được. Vấn đề nữa là phải tính được vòng quay của tiền tệ.
Kinh tế Việt Nam 2009: Bốn hạn chế từ góc nhìn thống kê (Theo Anh Quân // Vneconomy)
Năm 2009 kết thúc với toàn cảnh kinh tế Việt Nam khá sáng sủa. Nhiều chỉ tiêu vĩ mô đã xoay chuyển từ suy giảm sang tăng trưởng ở mức khá: GDP tăng vượt mục tiêu, lạm phát được kiềm chế, sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh chóng, đầu tư trong nước khơi thông, tỷ lệ hộ nghèo giảm…
Tuy nhiên, nổi lên trong năm qua là 4 hạn chế yếu kém, tồn tại ngay trong những kết quả đạt được. Tổng cục Thống kê đã làm rõ những vấn đề này tại buổi họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội năm 2009, tổ chức ngày 31/12.
Thứ nhất, nhận xét về kết quả tăng trưởng 5,32% trong năm nay, Tổng cục Thống kê cho rằng GDP tuy đã tăng lên, vượt qua giai đoạn suy giảm, nhưng tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả.
Năm 2009, vốn đầu tư phát triển đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Với kết quả này, tỷ lệ đầu tư so với GDP đã tăng từ mức 41,3% trong năm 2008 lên mức 42,8% năm 2009. Tuy nhiên, tăng trưởng lại sụt giảm từ mức tăng 6,18% xuống 5,32%.
“Tăng trưởng chưa thật vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao… Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Đức Hòa nhận xét.
Làm rõ thêm quan điểm cấp lãnh đạo cao nhất của mình, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia Bùi Bá Cường cho biết thêm, năng suất các yếu tố tổng hợp TFP có xu hướng giảm trong những năm gần đây.
Theo tính toán của ông Cường, giai đoạn 2004 - 2009, TFP khoảng 15,1%. Trong khi đó, giai đoạn 2003 - 2008 là 15,53%. “Như vậy là đóng góp vào tăng trưởng có giảm”, ông Cường nhận xét.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế tuy bước đầu có chuyển dịch nhưng vẫn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đối cao của khu vực sản xuất vật chất.
Năm 2009, cơ cấu tổng sản phẩm 3 khu vực kinh tế chủ chốt bao gồm nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ lần lượt là 20,66%; 40,24%; và 39,1%. Tổng cục Thống kê cho rằng tỷ trọng này không khác nhiều so với năm 2008 và những năm gần đây.
“Cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm còn bất hợp lý, chưa phát huy khả năng, thế mạnh của mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước”, Thứ trưởng Hòa dẫn lại nội dung báo cáo trong phần phát biểu của mình.
Thứ ba, Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc.
Cụ thể, nhập siêu hàng hóa năm 2009 tuy giảm 32,1% so với năm 2008 nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa; nhập siêu dịch vụ bằng 18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm 2008. Trong khi đó, kiều hối được dự báo sẽ giảm khoảng từ 1 đến 1,2 tỷ USD trong năm nay; dòng vốn FDI giảm lượng vốn chảy vào và tăng lượng tiền rút ra…
Một số chuyên gia cho rằng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể năm nay sẽ nghiêm trọng hơn so với nhiều năm trở lại đây.
Một điểm đáng chú ý khác, lạm phát trong năm 2009 tuy đã được khống chế nhưng nhìn chung giá cả ngày càng tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao.
Phân tích các yếu tố gây áp lực tăng lạm phát hiện nay, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ Giá cả Nguyễn Đức Thắng trước đó cho rằng, tác nhân có cả cầu kéo, chi phí đẩy và nhập khẩu lạm phát.
Đồng tình với quan điểm này ông Cường phân tích thêm, tăng trưởng cung tiền M2 đã đạt gần 29%; trong khi đó, tín dụng cho nền kinh tế cũng tăng gần 38%. Trong tương quan so sánh tiền - hàng, tăng trưởng GDP thực tế chỉ 11,4% trong năm nay không thể tạo vị thế cân bằng. Thêm vào đó, mức thâm hụt ngân sách tuy đã được khống chế nhưng đã lên tới 7% GDP trong năm nay.
Trong khi đó, lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh tăng lên, chưa kể phụ phí đươc có xu hướng gia tăng trong hoạt động ngân hàng. Trong khi đó, chi phí tiền lương cũng sẽ tăng trong năm 2010. Nhưng ngược lại, nhiều chính sách hỗ trợ đã được cắt giảm vào cuối năm 2009 vừa qua. Có nghĩa rằng, doanh nghiệp phải thêm chi phí.
Thêm nữa, xu hướng tăng giá của thế giới là rõ ràng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng sắp tới sẽ phải tăng nhập khẩu nguyên, nhiên liệu đầu vào.
Thứ tư, Tổng cục Thống kê cho rằng một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục; đời sống nhân dân, nhất là người có thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người và vùng bị ảnh hưởng của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn.
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp với tỷ lệ thất nghiệp là 2,9%, cao hơn mức 2,38% của năm 2008; tỷ lệ hộ nghèo tuy đã giảm nhưng vẫn còn 12,3% (năm 2008 là 13,4%).
Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông tiếp tục gia tăng; tình trạng vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện trên tất cả các khâu từ sản xuất đến bảo quản, giết mô và chế biến gia súc, gia cầm, thủy sản, báo cáo của Tổng cục Thống kê chốt lại.
(Tinkinhte.com - Cổng thông tin kinh tế Việt Nam và thế giới)
Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kê được công bố ngày 31/12, trong năm 2009, Việt Nam đã hoàn thành hai mục tiêu khó khăn là chống suy giảm kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; đồng thời chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được nhắc đến rất nhiều ở Việt Nam, một số người dân đã nghe tới cụm từ này. Nhưng, điều quan trọng nhất là chiến đấu hay thích ứng, là việc chung sống với thiên nhiên hay cải tạo thiên nhiên, khuất phục thiên nhiên thì, đến bây giờ, vẫn là một cuộc chiến thực sự giữa các chuyên gia.
Là thành phố lớn nhất nhì Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí khá thấp nên dễ dàng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là hai hiện tượng nước biển dâng và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Đó cũng là kịch bản chung cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Dù kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút, lượng kiều hối không bằng 2008 nhưng với chính sách kích thích kinh tế được Chính phủ triển khai ngay từ đầu năm, GDP năm 2009 của Việt Nam đã đạt con số lạc quan trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm 2009 đạt 6,88%, Chính phủ đã thực hiện được cam kết với Quốc hội, là một trong những thông tin đậm nét trên nhiều tờ báo những ngày cuối năm 2009.
Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá đánh giá, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 có thể đạt mức 6,5% như dự kiến, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó đáng chú ý là lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại.
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.
180 năm qua, vùng ven biển huyện Kim Sơn, Ninh Bình cứ mỗi ngày một lấn dần ra biển. Lấn riết, giờ có thêm một huyện! Tuy nhiên, điều này có vẻ gì đó… chưa ổn lắm, bởi hiện nay gần như cả thế giới đang đối mặt với một vấn đề ngược lại với Kim Sơn: biển lấn.
Các nhà kinh tế đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ tái lạm phát cao của VN. Những căn cứ chủ yếu cho một thông điệp quan trọng như vậy là: mức tăng tín dụng nóng (trên 40%); ảnh hưởng lạm phát của nền kinh tế thế giới; nhập siêu gia tăng và đặc biệt thâm hụt ngân sách ở mức cao. Tuy nhiên, tác giả của bài viết này lại đưa ra quan điểm hoàn toàn khác biệt.
Năm 2010 là năm cuối TP.HCM thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 và cũng là năm tiền đề để bước vào kế hoạch 5 năm 2010 – 2015, vì vậy nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của thành phố trong năm 2010 là rất lớn.
Có những cơ sở để khẳng định Kinh tế Việt Nam sẽ đạt tăng trưởng cao trong 2010, tuy nhiên cũng không thể lơ là các cân đối vĩ mô để giữ ổn định kinh tế và tránh lạm phát cao. Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam liệu có tránh được các hệ lụy tác động từ kinh tế thế giới vẫn còn đầy bất ổn và nhiều rủi ro ?
Là tỉnh có đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia dài nên quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Campuchia qua các cửa khẩu tại An Giang là rất lớn. Với những tiềm năng sẵn có cùng những định hướng phát triển đúng đắn, kinh tế biên mậu đang được tỉnh An Giang khai thác hiệu quả và là cửa ngõ để đưa hàng Việt Nam ra nước ngoài.
Đây là quan điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) phục vụ cho phiên thảo luận toàn thể của Quốc hội về dự án luật này trong cả ngày 17/6.
Đứng cùng báo giới bên hành lang Quốc hội giờ giải lao chiều ngày 14/6 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói về kết quả lấy phiếu tín nhiệm của 26 thành viên Chính phủ: “Các con số đã nói lên tất cả”.
Trao đổi với VnEconomy bên lề hội nghị kinh tế biển vừa được tổ chức mới đây tại Hà Tĩnh, một lãnh đạo của Hà Tĩnh cho hay đến thời điểm này, tổng vốn đầu tư của tổ hợp Formosa đã lên tới 2 tỷ USD.
Vụ cháy tại cây xăng ở Hà Nội mới đây cùng với việc phát hiện rút ruột xăng xe bồn tại Quảng Ninh đã làm nóng lên câu chuyện quản lý kinh doanh xăng dầu, tại cuộc họp của do Bộ Công Thương tổ chức ngày 5/6.
Chiều 5/6, hai bộ quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc đã ký thỏa thuận về việc xây dựng đường dây thông tin điện thoại bảo mật nối thẳng giữa hai bên, nhằm tăng cường sự tiếp xúc và trao đổi mật thiết giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước, nguồn tin từ báo Quân đội Nhân dân cho biết.
“Chính phủ đã nhìn nhận ra vấn đề nhưng ở phía dưới chưa hành động theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Nếu điều này không được khắc phục, thì không có cách nào để cải thiện tình hình thực hiện chính sách và đưa nền kinh tế thoát khỏi trì trệ”, ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nêu quan điểm.
Ngày 5/6, Chính phủ đã gửi Quốc hội báo cáo tình hình quản lý, sử dụng quỹ bảo trì đường bộ. Đây là báo cáo được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ chuẩn bị trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội và từ tình hình thực tế.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.