Dây chuyền ép nhựa melamine trị giá 4 triệu đô la Mỹ của Công ty Phát Thành mới đầu tư. Ảnh: Lê Toàn.
Tranh thủ cơ hội thuận lợi, kịp thời bổ sung, thay thế và trang bị mới hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại nhằm phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững, đó là mục tiêu mà bản đề án tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam nhắm tới.
Bài viết này nhằm cung cấp thêm một số thông tin xung quanh xu hướng tái cấu trúc kinh tế đang diễn ra trên thế giới để tham khảo.
Nhiều nền kinh tế đang khởi động những quá trình tái cấu trúc chưa từng có trong lịch sử.
Đối với các sản phẩm: đang và sẽ có sự cải thiện căn bản về danh mục, chủng loại, chất lượng, hình dáng, công dụng và giá cả của hàng loạt sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ theo hướng đa dạng hơn, gọn nhỏ hơn, nhiều chức năng hơn, tiện lợi, tinh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng và rẻ hơn, do đó, phổ cập rộng rãi hơn. Sẽ xuất hiện hàng loạt sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới. Vòng đời sản phẩm sẽ ngắn đi, thậm chí rất ngắn.
Trong cơ cấu tiêu dùng mới, tỷ trọng lớn sẽ thuộc về thông tin và những phương tiện cung cấp, xử lý và phân tích thông tin...
Công nghệ mới khiến giá trị của thông tin trở nên đắt hơn. Chất lượng nắm bắt, xử lý các thông tin trở thành nhân tố quyết định chất lượng sống, cũng như sự thành công của mỗi cá nhân và doanh nghiệp, do đó, của cả quốc gia.
Đối với các công ty: sẽ có hai xu hướng diễn ra song song. Một mặt, nền kinh tế quốc gia và thế giới càng lớn và mở rộng hơn thì các công ty trung bình và nhỏ sẽ càng thống trị và có tương lai hơn.
Các doanh nghiệp sẽ được tổ chức theo quy mô nhỏ (thậm chí có công ty một người), phi tập trung hóa, giảm bớt các khâu trung gian, cơ cấu thành nhiều đơn vị độc lập, có quyền tự chủ cao, giảm bớt tệ nạn quan liêu, được chuyên môn hóa cao, có tinh thần hợp tác, hoạt động mang tính toàn cầu, chặt chẽ và tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức ngày càng cao hơn.
Mặt khác, sự hợp nhất để trở thành lớn hơn, mạnh hơn, giảm chi phí và có sức cạnh tranh hơn, đáp ứng những nhu cầu to lớn của nền kinh tế tương lai sẽ trở thành xu hướng vận động của các tổ hợp kinh doanh dịch vụ tài chính ngân hàng và thông tin.
Sẽ ngày càng có nhiều tập đoàn xuyên quốc gia có giá trị tài sản lớn hơn GDP của một nước, thậm chí của nhiều nước. Các công ty xuyên quốc gia đang kiểm soát hai phần ba chu chuyển ngoại thương và đầu tư quốc tế và sẽ không mất đi vai trò to lớn của chúng trong việc tạo động lực cho tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu.
Đối với các nền kinh tế quốc gia và quốc tế:
Các cấu trúc ngành nghề sẽ chuyển dịch theo hướng:
• Thu hẹp và mất đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống; xuất hiện những ngành khai thác, chế biến nguyên liệu mới thích hợp.
• Các ngành sản xuất truyền thống được chuyển thành những ngành sản xuất kỹ thuật cao và hàng loạt ngành sản xuất mới sẽ nổi lên với cơ cấu phát triển lên tầng lớp ngày càng cao hơn.
• Các ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tế quốc gia và quốc tế.
• Công nghiệp quốc phòng thuần túy sẽ giảm tỷ trọng, hoặc định hướng “kiêm nhiệm” các hoạt động kinh doanh có tính dân sự.
• Các công nghệ mới, các xa lộ thông tin, vận tải toàn cầu phát triển, đang thu hẹp lại khoảng cách của các quốc gia, đồng thời mở rộng giới hạn không gian kinh tế và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển các yếu tố của hoạt động tái sản xuất kinh tế - xã hội.
Nền công nghiệp mới, tự động hóa và có tính toàn cầu sẽ xuất hiện cùng với nền kinh tế thị trường toàn cầu. Chế độ tổ chức lao động của công ty và quốc gia cũng thay đổi mạnh. Sẽ bớt đi kiểu làm việc tập trung tại công sở và chế độ ăn lương suốt đời tại một công ty, một quốc gia. “Nền kinh tế nợ” sẽ trở thành đặc trưng cho mọi công ty và quốc gia. Các hoạt động tài chính - tín dụng sẽ ngày càng trở thành vũ khí cạnh tranh và công cụ “đồng hóa” một công ty, một quốc gia lợi hại nhất.
Tình trạng nợ khó đòi và tín dụng không hiệu quả sẽ gia tăng, kéo theo những xung lực tiềm ẩn gây bất ổn định thị trường tài chính - tiền tệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu bức bách hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an toàn tài chính - tín dụng cả ở cấp vi mô lẫn cấp vĩ mô (cấp quốc gia lẫn khu vực và quốc tế).
Tóm lại, do sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau của các xu hướng đã nêu trên đây, toàn cảnh nền kinh tế thế giới tương lai sẽ là một bức tranh không cố định cả về màu sắc và bố cục. Độ nhạy cảm và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các vấn đề và sự kiện trong và ngoài nước gia tăng. Biên giới và chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống sẽ bị “mờ” dần. Các định chế khu vực và quốc tế ngày càng ảnh hưởng chi phối chính sách và định hướng sự phát triển của mỗi nước.
Yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam
Hiện tại, bản đề án tái cấu trúc nền kinh tế đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng với sự phối hợp của các bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương, cũng như tham khảo ý kiến các nhà khoa học. Mục tiêu của đề án, theo chỉ đạo của Chính phủ, là: “để tranh thủ cơ hội thuận lợi, kịp thời bổ sung, thay thế và trang bị mới hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại nhằm phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững”. Nội dung của tái cấu trúc bao gồm tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm ngành nghề, sắp xếp và cấu trúc lại doanh nghiệp nhà nước…
Để quá trình tái cấu trúc nền kinh tế đạt được mục tiêu đặt ra, cần bảo đảm các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, hình thành nền kinh tế với cơ cấu hai tầng. Tầng trên là các doanh nghiệp lớn, hiện đại. Tầng dưới là các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết chặt chẽ với nhau và với tầng trên.
- Thứ hai, khuyến khích việc sáp nhập để phát triển các tập đoàn kinh tế lớn, đa sở hữu, kinh doanh đa ngành, hoạt động xuyên quốc gia.
- Thứ ba, hình thành các sản phẩm chủ lực, quy mô lớn, có hiệu quả và phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của địa phương và của doanh nghiệp.
- Thứ tư, có sự tham gia rộng rãi, tự nguyện của các doanh nghiệp và đối tác liên quan theo nguyên tắc thị trường, đồng thời đề cao vai trò nhạc trưởng của Nhà nước thông qua các công cụ luật pháp và ngân sách.
- Thứ năm, cần bắt đầu tái cấu trúc theo từng ngành và sản phẩm kinh tế chủ lực từ đó hình thành phương án chung của cả nước; mở rộng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, cần đề cao vai trò của SCIC (Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước) trong việc chủ động mua bán các cổ phần doanh nghiệp để định hướng và thúc đẩy quá trình này.
Cần nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là cần khẩn trương chuẩn bị những điều kiện về mọi mặt cho cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, mà mấu chốt vẫn là các ngành kinh tế lớn cần chủ động tìm ra một hướng đi thích hợp, bền vững. Nếu đề án được xây dựng bởi một bộ phận công chức ngành hẹp và thiếu thông tin sẽ tạo ra một sản phẩm bất cập, khó khả thi, thậm chí gây tổn thất chung cho nền kinh tế.
(Theo TS. Nguyễn Minh Phong // Thời báo kinh tế Sài Gòn)
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) nhận định kinh tế Việt Nam có thể xuống điểm đáy vào cuối năm nay trước khi đi lên từ 2010. Khu vực kinh tế Đông Á mới nổi sắp bước vào giai đoạn chuyển tiếp từ suy thoái đến phục hồi.
Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ phát sinh tiêu cực và thất thoát vốn của Chính phủ nếu công tác quản lý không chặt chẽ khi thực hiện đồng thời 2 gói kích thích kinh tế này.
Nước ta là quốc gia vừa xuất khẩu dầu thô, vừa phải nhập khẩu xăng dầu và các sản phẩm hóa dầu khác cho nền kinh tế. Vì vậy, biến động giá dầu thô thế giới có tác động lớn đến nền kinh tế. Mặc dù tỷ trọng các khoản thu từ hoạt động kinh tế ngoài dầu thô những năm qua đã tăng lên đáng kể.
Sau khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) liên tục tăng cao trong năm 2008, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có phần nguyên nhân đến từ danh mục và quyền số hàng hóa trong giỏ hàng tính CPI đã không còn hợp lý.
Trong lúc việc cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền được pháp luật bảo vệ, thì một số động thái mới đây của Viettel - một đơn vị hàng đầu trong ngành viễn thông khiến cho các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực này lo lắng.
Giám đốc công ty tư vấn VAFM Việt Nam Vũ Xuân Tiền vẫn cảm thấy lo ngại về nguy cơ bất ổn vĩ mô kinh tế rình rập trong sáu tháng cuối năm, cho dù ông đã nghe nhiều giải thích của các quan chức Chính phủ phụ trách kinh tế trước Quốc hội. Ông nói: “Tôi đang rất thất vọng. Câu hỏi rất cấp thiết là kinh tế cuối năm 2009 và 2010 sẽ như thế nào? Lạm phát sẽ ra sao? Tôi cần có lời khuyên để có những giải pháp cho chính doanh nghiệp mình”.
Đà tăng giá tiêu dùng tháng 6 cao hơn một chút so với tháng 5, CPI của 10 nhóm mặt hàng đều tăng nhẹ, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng mạnh nhất (1,45%) vì thị trường địa ốc có dấu hiệu ấm lên. Kế đó là nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1,35%, song giới chuyên môn nhìn nhận cả năm lạm phát không thể vượt 10%.
Đây là lần thứ 5 Việt Nam có sự bổ sung hàng hóa vào rổ hàng tính chỉ số CPI, nâng tổng số mặt hàng mới sẽ là 564 mặt hàng thay vì 494 mặt hàng như trước đây.
Nhiều công trình, dự án chậm tiến độ, gây lãng phí hàng nghìn tỷ đồng ngân sách, nhưng chưa có giải pháp khắc phục được “mổ xẻ” tại Kỳ họp Hội đồng nhân dân TP.HCM lần thứ 16, khóa VII.
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn (IPSARD) - Bộ NN&PTNT vừa công bố những ảnh hưởng của suy giảm kinh tế đến lao động, việc làm và đời sống nông dân với 68% số hộ nông dân bị tổn thương.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Tổng quỹ đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị hiện đang quản lý và sử dụng khoảng 1.512,8 triệu m2 với tổng giá trị trên 597 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,50% tổng giá trị toàn bộ tài sản nhà nước là con số tại báo cáo mới nhất của Chính phủ gửi Quốc hội.
Khoảng 2.000 việc làm chính thức và 1.000 việc làm bán thời gian đã được khoảng 45 doanh nghiệp trong và ngoài nước tuyển dụng tại ngày hội việc làm do Câu lạc bộ Nguồn lực trẻ trường Đại học Ngoại thương Hà Nội tổ chức. Số đầu việc này không giảm so với sự kiện năm 2011.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.