Việc sử dụng đòn bẩy tài chính của giới đầu tư tại Việt Nam đã là khá phổ biến với hoạt động đầu tư bất động sản trong những năm qua, đặc biệt là khu vực phía Nam. Đối với thị trường chứng khoán, đòn bẩy tài chính được áp dụng chủ yếu trong thời kỳ thị trường tăng trưởng trong năm 2009.
Ảnh hưởng của đòn bẩy tới biến động chỉ số: Sự đi lên và sụt giảm mạnh mẽ của chỉ số chứng khoán đi kèm với sự đi lên và sụt giảm của khối lượng giao dịch
Xét về bản chất, hoạt động sử dụng đòn bẩy tài chính có thể hiểu là việc sử dụng vốn vay (thay vì vốn tự có) để đầu tư sinh lời và được tính trên số vốn vay/tổng tài sản. Đứng trên quan điểm như vậy, đòn bẩy tài chính có thể được thực hiện trên cả góc độ đầu tư vào các tài sản (chứng khoán, vàng, bất động sản) và góc độ doanh nghiệp (sử dụng vốn vay để tăng cường hiệu quả hoạt động của mình).
Lợi – hại liền kề
Trong năm 2009, việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm tăng mạnh tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán. Việc sử dụng đòn bẩy đã được áp dụng ngay từ thời kỳ tăng trưởng đầu của thị trường và trở nên phổ biến tại con sóng đi lên thứ hai (từ giữa tháng 7/2009) khiến cho thanh khoản thị trường tăng mạnh, đỉnh điểm vào tháng 10/2009 có nhiều phiên liên tiếp giao dịch đạt giá trị quanh mốc 5.000 tỷ đồng. Một trong những nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng đòn bẩy là chi phí vốn vay trở nên rất thấp sau khi Ngân hàng Nhà nước đã cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống còn 8%. Chính sách hỗ trợ lãi suất thậm chí đưa chi phí vốn của những doanh nghiệp được vay ưu đãi xuống mức chỉ còn 6%/năm. Chi phí thấp khiến cho rủi ro đối với sử dụng đòn bẩy thấp hơn (do số lãi phải trả khi tất toán là thấp hơn) và điều này đã dẫn tới việc công cụ này được sử dụng phổ biến.
Đòn bẩy tài chính, tuy nhiên, cũng được cho là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc chỉ số chứng khoán biến động rất mạnh trong năm 2009. Tính rủi ro hệ thống của thị trường cũng tăng lên tương ứng với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính trung bình của nhà đầu tư. Khi thị trường đi xuống, nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ lập tức bán ra khi đã chạm ngưỡng cắt lỗ của mình nhằm giảm thiểu rủi ro. Điều này tạo ra một lượng cung áp đảo lực cầu và khiến chỉ số tiếp tục đi xuống sâu hơn. Ngược lại, sau khi tạo đáy và đi lên, thị trường cũng sẽ gặp những lực cản mạnh từ những người sử dụng đòn bẩy tài chính (và chưa cắt lỗ khi thị trường đi xuống). Thực tế thì đòn bẩy tài chính được coi là một trong những nguyên nhân chính của hầu hết các cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây. Chẳng hạn, cuộc khủng hoảng trong các năm 2008 - 2009 là hệ quả của việc người dân Mỹ tận dụng vốn vay lãi suất thấp khi FED duy trì chính sách lãi suất thấp vào những năm 2001 - 2004 để vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng dotcom năm 2000-2001. Số vốn vay này được đầu tư vào một tài sản có tính rủi ro cao (nhà đất) do giá nhà đất đã liên tục tăng mạnh trong cùng thời gian đó. Khi lãi suất tăng lên liên tục và nhiều nhà đầu tư sử dụng quá nhiều đòn bẩy phải bán ra đã dẫn tới làn sóng bán tháo bất động sản, quá trình giảm đòn bẩy (de-leveraging) đã lan ra các lĩnh vực khác (doanh nghiệp, tiêu dùng cá nhân) khiến khủng hoảng trở nên rất trầm trọng. Theo một số chuyên gia đầu tư tài chính hàng đầu như Bill Gross hay El-Erian (hai giám đốc điều hành quỹ PIMCO lớn vào bậc nhất thế giới với tổng tài sản trên 1.000 tỷ đô la Mỹ), quá trình giảm đòn bẩy trên sẽ còn tác động mạnh lên sự hồi phục kinh tế, và nước Mỹ sẽ rơi vào một “trật tự mới” (new normal) với tăng trưởng chậm và thất nghiệp gia tăng nhiều năm sau khi khủng hoảng đã qua đi.
Triển vọng sử dụng đòn bẩy trong năm 2010
Trong năm 2010, việc sử dụng đòn bẩy tài chính có một số thuận lợi đáng kể. Thứ nhất, việc thông qua các quy định về ký quỹ sẽ khiến cho việc sử dụng đòn bẩy tài chính dễ dàng hơn với nhà đầu tư, ngoài ra cũng tăng tính minh bạch và giảm rủi ro hệ thống cho thị trường. Thứ hai, nhà đầu tư đã có nhiều kinh nghiệm hơn từ những bài học về sử dụng đòn bẩy tài chính trong năm 2009 và sẽ chọn lọc hơn, sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hơn.
Việc áp dụng đòn bẩy tài chính có thể đem lại hiệu quả cao hơn đối với nhóm người trẻ tuổi có độ chấp nhận rủi ro cao.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý các yếu tố không thuận lợi. Lãi suất cơ bản có khả năng tăng cao hơn nhằm kiềm chế lạm phát và tạo ổn định cho kinh tế vĩ mô. Thực tế, lãi vay của các công ty chứng khoán đối với hoạt động đòn bẩy tài chính hiện đã lên tới mức 18% - 20%/năm so với khoảng 14% trong năm 2009. Lãi vay này (vốn dựa trên lãi cho vay tiêu dùng) sẽ tăng lên khi lãi suất tăng lên. Chi phí vay vốn cao hơn sẽ khiến cho nhà đầu tư thận trọng hơn khi sử dụng công cụ này. Thêm vào đó, thị trường sẽ có ít biến động mạnh so với năm 2009 và xu hướng biến động trong ngắn hạn là không rõ ràng. Với chính sách vĩ mô thiên về cân bằng giữa ổn định và tăng trưởng thay vì chính sách vị tăng trưởng trong năm 2009, luồng vốn cho vay để đầu cơ vào các tài sản rủi ro cũng sẽ bị kiểm soát chặt chẽ.
Bài học nằm lòng
Mỗi nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau và họ cần nắm được chính xác mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng đòn bẩy tài chính có thể đem lại hiệu quả cao hơn đối với nhóm người trẻ tuổi có độ chấp nhận rủi ro cao vì có thể giúp nhóm này đa dạng hóa danh mục đầu tư theo thời gian. Ở các nước phát triển, nhà đầu tư cá nhân vào các quỹ quản lý tài sản thường phải làm các test liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, qua đó nhà quản lý tiền có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng đối tượng.
Cần tuân thủ kỷ luật đầu tư. Đây là yếu tố tiên quyết nếu bạn sử dụng đòn bẩy. Thứ nhất, bạn cần tuân thủ việc cắt lỗ: xác định mất mát tối đa và có sự cắt lỗ hợp lý khi thị trường diễn biến không theo ý đồ đầu tư, ít nhất là đối với phần vốn vay. Thứ hai, không sử dụng đòn bẩy để mua trung bình giá khi thị trường đi xuống vì điều này chỉ khiến cho các khoản nợ ngày càng trầm trọng. Thứ ba, tránh việc sử dụng đòn bẩy gấp thếp. Nhiều nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy và thành công trong một vài phiên giao dịch đầu và tiếp tục “gấp thếp”, tiếp tục sử dụng đòn bẩy với mức độ cao tương đương hay cao hơn trên toàn bộ phần vốn và lãi đạt được. Thực tế thì những người sử dụng đòn bẩy sau một vài lần thành công có xu hướng cho rằng vận may sẽ tiếp tục đến và mình sẽ rút khỏi thị trường khi đang trên đỉnh cao, nhưng trong phần lớn các trường hợp điều này không xảy ra. Một diễn biến không đúng ý đồ của nhà đầu tư sẽ khiến cho một phần lớn tài sản bay hơi chỉ trong một lần sai sót.
Hạn chế tối đa việc sử dụng đòn bẩy vào các tài sản không có tính thanh khoản. Nếu đầu tư vào các tài sản này, nhà đầu tư cần nắm được họ sẽ đối mặt với cả 3 rủi ro chính là rủi ro mất giá, rủi ro đòn bẩy và rủi ro thanh khoản. Việc sử dụng đòn bẩy nên tập trung vào các tài sản có tính thanh khoản cao như cổ phiếu blue chip so với cổ phiếu penny, hay các bất động sản có tính thanh khoản cao so với các bất động sản ở địa bàn có cầu mua thấp. Nên bắt đầu sử dụng thử đòn bẩy với quy mô nhỏ để thử nghiệm và việc sử dụng đòn bẩy nên là một phần của một kế hoạch đầu tư có kỷ luật và có tính khả thi. Việc sử dụng đòn bẩy cần có kế hoạch rõ ràng, nhà đầu tư cần phác thảo ra các trường hợp sẽ xảy ra trong tương lai và hành động của họ trong từng trường hợp.
Bạn cũng nên sử dụng đòn bẩy khi thị trường có xu hướng rõ ràng. Câu châm ngôn quen thuộc trong đầu tư là “xu hướng là bạn”. Nếu bạn đi ngược xu hướng hay đám đông thị trường, ngay cả khi bạn đúng thì cũng sẽ mất một thời gian trước khi diễn biến thị trường hợp với ý đồ của bạn. Ngay trong đợt khủng hoảng vừa qua tại Mỹ, nhiều quỹ đầu tư đã xác định sớm sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất và thị trường chứng khoán từ những năm 2001 – 2002, tuy nhiên chỉ sau 5 - 6 năm (2007 - 2008) các dấu hiệu của bong bóng mới trở nên rõ ràng. Chỉ một số ít người bán khống xác định đúng thời điểm và trường vốn mới đạt được thành công. Tránh việc sử dụng đòn bẩy tối đa: Đây là sai lầm mà những người mới sử dụng đòn bẩy thường hay gặp phải. Việc sử dụng đòn bẩy quá khả năng chịu đựng về tài chính thường xảy ra khi thị trường không diễn biến theo ý đồ. Trên thực tế, một nguyên lý khi sử dụng đòn bẩy 50% vốn tự có, 50% vốn vay là nhà đầu tư luôn phải duy trì khoảng 40% tài sản dưới dạng tiền gửi/tiền mặt để giảm rủi ro đầu tư và có vốn để duy trì danh mục khi diễn biến của thị trường đi ngược với nhận định.
Mặc dù bài viết này áp dụng chủ yếu cho nhà đầu tư cá nhân, các doanh nghiệp cũng cần chú ý và tuân thủ các nguyên tắc trên khi sử dụng đòn bẩy tài chính. Thứ nhất, việc sử dụng vốn vay nên dùng để đầu tư vào các dự án có tính khả thi và độ an toàn thu hồi vốn cao thay vì đầu tư vào các tài sản rủi ro. Đây là điều nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã học được trong đợt suy giảm vào năm 2008 khi các doanh nghiệp đã dùng vốn vay để đầu tư tài chính, đầu cơ nguyên vật liệu hay bất động sản. Những biến động giá ngược chiều và tính thanh khoản kém của các thị trường đã khiến cho nhiều doanh nghiệp hàng đầu như REE, SAM, GMD phải chịu những khoản lỗ lớn dù họ vẫn hoạt động tương đối hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh chính của mình. Thứ hai, các cơ chế kiểm soát việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng cần được tuân thủ một cách kỷ luật và chặt chẽ hơn. Khác với cá nhân, doanh nghiệp và người quản lý (tổng giám đốc) là hai cá thể độc lập. Ngay cả khi doanh nghiệp phá sản thì tài sản của người quản lý cũng không bị ảnh hưởng (với giả định họ không nắm cổ phiếu của doanh nghiệp). Vì lẽ đó, người quản lý thường có xu hướng chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn nhiều so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp, và theo đó rủi ro phá sản với doanh nghiệp cũng cao hơn. Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại cần được áp dụng triệt để để giảm thiểu rủi ro trên trong việc sử dụng đòn bẩy tài chính không chỉ cho các tài sản có tính rủi ro cao mà còn cho cả các dự án kinh doanh của doanh nghiệp.
Tìm kiếm lợi nhuận từ đầu tư vào các tài sản rủi ro hay các hình thức khác là một công việc không hề đơn giản và đòn bẩy tài chính không phải là công cụ khiến cho việc tìm kiếm siêu lợi nhuận dễ dàng hơn. Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao, nhà đầu tư nên thuộc lòng những biện pháp kiểm soát rủi ro trước khi nghĩ tới việc thu lợi nhuận. Xa rời nguyên tắc trên sẽ là bước đầu tiên đưa nhà đầu tư tham gia thị trường với tư cách một “con bạc” thay vì đầu tư với mục đích cải thiện lợi nhuận và giảm bớt rủi ro.
Nguyễn Việt Đức - Phó giám đốc Công ty cổ phần - Quản lý quỹ đầu tư Sài Gòn - Hà Nội (SHF)
Hoạt động mua bán và sáp nhập công ty (M&A ) trong quý I/2010 bùng nổ ở châu Á, đánh dấu một sự dịch chuyển rõ rệt trên quy mô toàn cầu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính.
Trong mớ lùm xùm nợ nần của Tập đoàn và của các công ty con thành viên Tập đoàn, chúng tôi chỉ đề cập một vài khía cạnh yếu kém đến lạ lùng trong lĩnh vực quản lý nợ của Tập đoàn Vinashin.
Theo lẽ tự nhiên, một công ty càng trực tiếp tham gia vào việc cấp tín dụng tiêu dùng cho khách hàng thì nó càng dễ bị tổn thương trước tỷ lệ đòn bẩy tiêu dùng. Những công ty trực tiếp tài trợ cho các khoản mua sắm của khách hàng sẽ lâm vào cảnh không còn phương án cứu chữa một khi khách hàng hết hạn mức tín dụng và phải cắt giảm chi tiêu.
Sau một thời gian phát triển nóng, đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận lại hiệu quả hoạt động của Tập đoàn này để có những điều chỉnh kịp thời, đưa con tàu khổng lồ Vinashin theo đúng hướng.
Không lâu sau khi đắc cử, tân Tổng Thống Barack Obama đã đưa ra cam kết chấn hưng nền kinh tế thể hiện “quyết tâm tạo thêm 2,5 triệu việc làm từ nay đến đầu năm 2011”. Như vậy, để thực hiện được cam kết trên, chính phủ sẽ phải tiêu tốn thêm hàng tỷ USD.
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ (sub-prime) đã và đang gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ, tạo ra các khoản lỗ lên tới hàng trăm tỷ USD cho các ngân hàng đầu tư lớn trên thế giới.
Ổn định thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng của nền kinh tế. Bởi lẽ, thị trường tài chính là nơi giao dịch các nguồn lực tài chính, mà thực chất là nó giao dịch các khối tài sản của nền kinh tế, được thể hiện dưới hình thức tiền tệ và các công cụ có giá trị như tiền tệ, thường được gọi là các công cụ tài chính hay hàng hóa tài chính. Ở đó, nó bao gồm việc chuyển giao các quyền sử dụng các khoản tài chính (đó là các khoản vay nợ: tín dụng, trái phiếu, tín phiếu) hoặc chuyển giao các quyền sở hữu các tài sản tài chính (các cổ phiếu, các phần vốn góp vào các công ty,...), và các hợp đồng tài chính phái sinh (các quyền chọn, hợp đồng tương lai,…)
Có các định nghĩa khác nhau về rửa tiền, cách hiểu phổ biến nhất thì rửa tiền là hành động chuyển lợi nhuận thu được từ những hoạt động phạm pháp sang lợi nhuận hợp pháp; phạm vi rửa tiền do buôn bán ma tuý thường được coi là kiếm được rất nhiều lợi nhuận bất hợp pháp, một số hoạt động khác như buôn lậu vũ khí, buôn lậu những tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp, buôn bán bộ phận người, bí mật hạt nhân, vũ khí; việc sử dụng tiền của những tổ chức khủng bố, bắt cóc tống tiền, những giao dịch tài chính bất hợp pháp để trốn tránh những luật pháp quốc tế.
Mặc dù hàng tồn kho (hay ở Việt Nam vẫn gọi là tích lũy tài sản lưu động) chỉ là một nhân tố nhỏ cấu thành nên GDP, nhưng diễn biến hàng tồn kho bất thường vẫn có thể dẫn tới những hệ lụy kinh tế không thể coi nhẹ. Nhu cầu tiêu dùng trong nước được đáp ứng bởi nguồn cung nội địa là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững.
Trả lời câu hỏi “Đâu là thử thách điển hình đối với tư duy truyền thống về những điều cần làm trong giai đoạn nền kinh tế xuống dốc?”, Giáo sư Robert S. Kaplan - cha đẻ của mô hình Balanced Scorecard - cho rằng nên tiếp tục duy trì những khoản chi tiêu mang tính chiến lược.
heo ước tính của Avalue Vietnam - một tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực định giá, tư vấn tài chính, tư vấn quản trị và đầu tư, trong năm 2009, số thương vụ mua bán - sáp nhập (M&A) tại Việt Nam ước tính đạt 287 và giá trị giao dịch đạt 1,09 tỷ USD. Số thương vụ tuy tăng 71% so với năm 2008, nhưng giá trị thương vụ thì lại giảm nhẹ.
Các công ty quản lý quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity Fund Management Firm, gọi tắt là quỹ PE) đang hoạt động ở Việt Nam như Aureos Capital, BankInvest, Mekong Capital... vừa trải qua một năm hoạt động đầy khó khăn.
Giai đoạn khủng hoảng tín dụng hiện nay khiến yêu cầu xem xét lại luật lệ của trò chơi tài chính đối với các thị trường vốn toàn cầu thêm phần cấp bách. Để làm được điều đó, chúng ta cần suy nghĩ khác về sự phát triển của thế giới tài chính
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.