Nếu theo logic đã được đưa ra bởi các sử gia như Alfred Chandler, người đã viết các cuốn sách kinh điển như Quy mô và Phạm vi (Scale and Scope) và Chiến lược và Cấu trúc (Strategy and Structure), thì các công ty tồn tại để khai thác lợi ích của quy mô lớn. Chúng tồn tại, nói một cách khác, là để tối đa hóa hiệu quả theo quy mô.
Đường cong kinh nghiệm thể hiện khá rõ mối quan hệ này: Công ty càng phát triển lớn, thì nó càng thu thập được nhiều kinh nghiệm, và hiệu quả của nó – đặc biệt là hiệu quả liên quan chi phí – càng được cải thiện.
Ngày nay chúng ta có một cơ sở hạ tầng mới – một cơ sở hạ tầng số khác biệt lớn với những cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng và thông tin liên lạc trước đó. Ảnh: Corbis
Logic của tính hiệu quả theo quy mô ra đời để đáp ứng cho sở hạ tầng thông tin liên lạc và vận tải phát triển mạnh vào thế kỷ XIX cùng với sự phát minh ra tàu thủy chạy bằng hơi nước, đường ray tàu hỏa, điện tín và, không lâu sau đó, điện thoại và ôtô. Những cơ sở hạ tầng này lần đầu tiên cho phép sản xuất trên quy mô lớn các thiết bị phục vụ thị trường trong nước. Quy mô sản xuất lớn đến lượt nó lại đòi hỏi quy mô lớn trong hoạt động marketing để thúc đẩy người tiêu dùng từ chỗ chỉ mua những gì họ cần sang mua những gì mình muốn.
Các doanh nghiệp truyền thông trên phạm vi rộng (như hệ thống TV và đài, các tạp chí quốc gia) xuất hiện để giúp các công ty vận động người dân mua hàng. Và một loại hình doanh nghiệp mới đã ra đời, loại doanh nghiệp sử dụng hạ tầng cơ sở và sự ổn định tương đối của thời kỳ đó để phát triển lớn mạnh nhanh chóng thông qua đẩy mạnh marketing và sản xuất trên quy mô lớn.
Ngày nay chúng ta có một cơ sở hạ tầng mới – một cơ sở hạ tầng số khác biệt lớn với những cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng và thông tin liên lạc trước đó. Các cơ sở hạ tầng trước đây, như điện, được định hình bởi các công nghệ mang đến cho xã hội những đột phá mới và hiệu suất được nâng cao một cách rõ rệt trước khi giá của chúng giảm tới tỷ lệ hiệu suất. Việc giảm giá này có thể đem đến một công cụ đo lường sự ổn định. Cơ sở hạ tầng số ngày nay đem lại ít tính ổn định và chắc chắn hơn rất nhiều.
Giống như một dòng nước êm đềm khi chảy chậm, nhưng sẽ không còn êm đềm khi chảy nhanh, các sự kiện của thế giới thế kỷ XXI đang trở nên mau lẹ hơn, hỗn loạn hơn và khó phán đoán hơn. Những điều không mong đợi đang trở thành bình thường. Các phân phối xác suất đang trở nên ít bình thường hơn. Quy luật quyền lực[1] ngày càng trở nên phổ biến. Chúng ta đang sống trong thời đại của sự không chắc chắn.
Khi thế giới trở nên ít chắc chắn hơn, hiệu quả theo quy mô đang dần mất đi tính đúng đắn. Tuy vậy nền kinh tế của chúng ta vẫn đầy cứng các doanh nghiệp tồn tại để tối đa hóa hiệu quả theo quy mô. Các doanh nghiệp đang dự đoán để đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm sản xuất hàng loạt bằng các chương trình marketing trên diện rộng.
Họ đang dựa vào mệnh lệnh và kiểm soát trong một thế giới ngày càng khó để ra mệnh lệnh và kiểm soát. Và họ đang mất đi các vị trí lãnh đạo của mình với tốc độ chưa bao giờ nhanh hơn bởi họ tiếp tục đẩy các nguồn lực tới nơi cần thiết trong khi lại cần phải thu hút nguồn lực cần thiết về phía mình.
Đúng vậy, cái chết của mệnh lệnh và kiểm soát đã được thổi phổng lên trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, những nhà tiên tri đầu tiên đã nhầm khoảng thời gian cần thiết của một chu trình sản xuất với sự triển khai một cơ sở hạ tầng số mới. Họ cũng không nắm được phải mất bao lâu để phát triển những hoạt động kinh doanh và xã hội mới cần thiết để khai thác các khả năng của cơ sở hạ tầng mới – các khả năng mới chỉ bắt đầu xuất hiện trong những lúc nguy khốn của doanh nghiệp và xã hội.
Điều chúng ta cần, thay vì triết lý quản lý dựa vào các cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc và vận tải của thế kỷ XIX, là một triết lý quản lý gắn liền với cơ sở hạ tầng số của thế kỷ XXI. Chúng ta cần có một nhân tố căn bản mới cho các thể chế của khu vực tư nhân và tập thể - để tưởng tượng lại chúng một cách phù hợp với thế giới xung quanh.
Thay vì hiệu suất theo quy mô, chúng ta cần sự kết nối theo quy mô, học hỏi theo quy mô và hiệu quả theo quy mô. Thay vì thực hiện đẩy tới, chúng ta cần các thể chế mà thực hiện thu hút về.
Trong bài đăng tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá xem các thể chế hút về này sẽ có vẻ ngoài thế nào. Làm thế nào các thể chế này xử lí với sự không chắc chắn bằng cách cho phép tiếp cận một cách linh hoạt với các nguồn lực. Chúng sẽ sử dụng lực hút để vận động hàng chục ngàn và thậm chí hàng triệu người tham gia cùng hướng đến một mục tiêu chung.
Và chúng tôi cũng muốn nhận được những chia sẻ quan điểm của bạn về những ưu điểm của việc đẩy trong một thế giới đang chuyển đổi. Bằng những cách nào công ty và các thể chế khác tiếp tục đẩy? Và việc đẩy tới này có tác dụng như thế nào đối với các công ty và thể chế này?
(Theo Minh Phương//John Hagel III, John Seely Brown và Lang Davison//TuanVN)
Quy hoạch được lập ra để các ngành phát triển theo mục tiêu vĩ mô. Nhưng với tình trạng buông lỏng quản lý như lâu nay, các bản quy hoạch gần như chỉ còn mang tính hình thức.
Bạn đã đạt được mục tiêu mà bạn đã đề ra trong cuộc sống chưa? Những giá trị ưu tiên trong cuộc sống của bạn là gì? Hãy đọc bài viết dưới đây, có thể bạn sẽ tìm ra câu trả lời thích hợp nhất.
“Quan sát thế giới từ sau cái bàn là một việc nguy hiểm” - điều này được tiểu thuyết gia Le Carre nêu ra. Vị tiểu thuyết gia nàycó liên quan tới hoạt động gián điệp quốc tế, nhưng nhận xét của ông thì có giá trị một cách công bằng với bất kỳ lãnh đạo cao cấp nào.
Các chuyên gia đã cảnh báo từ hơn bốn năm nay về các tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng đã được thành lập mà không có cơ sở pháp lý tương ứng. Ngoài ra, các tập đoàn hoạt động không hiệu quả và nhiều cảnh báo về những rắc rối pháp lý, kinh tế và khả năng đổ vỡ đã được đưa ra. Song đáng tiếc, nhiều người đã quá “say sưa với mô hình vĩ đại” với “các quả đấm thép”. Xem xét việc sử dụng nguồn lực và thành tích của khu vực kinh tế nhà nước, chúng ta sẽ rút ra kết luận gì?
Toàn cầu hoá là vấn đề không phải là mới nhưng để có những quan điểm về vấn đề này Pankaj Ghemawat đã tổng hợp rất nhiều ý kiến phản hồi từ các độc giả qua blog What in the world do mình phụ trách. Còn ý kiến của bạn về vấn đề này là gì?
Một xu thế dễ nhận thấy chính là trong cuộc khủng hoảng hiện nay, chính phủ các nước can thiệp ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế và việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Luật gia Nguyễn Ngọc Bích, nhìn lại một cách công bằng, Vinashin đã nảy sinh và tồn tại trong khung cảnh của một sự hiểu biết sai lầm, thiếu thốn về kiến thức lẫn phương pháp của chính nó và - quan trọng hơn - của môi trường quanh nó. Trong vòng có ba năm mà lập ra hơn 200 công ty nhờ tiền được cấp phát và đi vay, nên không đếm xỉa gì đến hiệu quả đầu tư. Điều này không thể xảy trong một công ty được quản trị theo khoa học.
Làm thế nào để thay đổi tâm lý cá nhân từ trạng thái chán nản, bi quan sang lạc quan, chủ động, từ trạng thái tâm lý bất lợi sang có lợi là câu hỏi mà rất nhiều nhà quản lý băn khoăn khi họ đứng trước sức ép và trong những thời kỳ khó khăn.
Không ai có thể phủ nhận rằng chaebol đã giúp phát triển kinh tế Hàn Quốc. Tuy nhiên, chaebol đã bị coi là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997; từng gây sức ép buộc các nhà làm luật phải tạo ra những đạo luật có lợi cho công việc kinh doanh của họ, hoặc thậm chí kiếm nhiều lợi cho mình hơn là phục vụ các lợi ích công. Đó là chưa kể tới những quan hệ "bẩn" giữa các chính trị gia và chaebol, được kết nối các khoản tiền hối lộ, đút lót. Việc này làm suy yếu các nền tảng của kinh tế Hàn Quốc.
Trong lịch sử quản trị kinh doanh thì cách quản trị đã trải qua bốn trình độ, hay nó có bốn mức và mỗi mức tương ứng với một loại quy mô của công ty. Sơ đẳng nhất là quản trị theo sự thuận tiện; sau đó tiến lên quản trị theo khoa học; tiếp theo là quản trị tiên tiến (mức 3 - từ 1980 đến nay, với ISO) và quản trị hiện đại (mức 4 - từ 1990 trở đi, với ERP). Quản trị theo sự thuận tiện không thể tạo nên tập đoàn hay để cho tập đoàn tồn tại.
Khi cuộc khủng hoảng châu Á 1997 ập đến, các ngân hàng nước ngoài đồng loạt không chịu cho các chaebol đảo nợ. Một nửa trong số 30 chaebol hàng đầu (trong đó có Kia, SSangyong, Sammi, Jinro, Hanbo...) đã phá sản hoặc phải sáp nhập với các chaebol khác. Chính phủ Hàn Quốc đã buộc các tập đoàn lớn phải trải qua một quá trình cải tổ sâu rộng đến tận hôm nay. Việt Nam có thể học gì từ những kinh nghiệm này?
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.