Quy hoạch được lập ra để các ngành phát triển theo mục tiêu vĩ mô. Nhưng với tình trạng buông lỏng quản lý như lâu nay, các bản quy hoạch gần như chỉ còn mang tính hình thức.
Xé rào
Sau một thời gian dài chạy đua phát triển năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường, đến năm 2004 công suất của ngành thép trong nước bắt kịp mức tiêu thụ và chỉ một năm sau đó, ngành này đã lâm vào khủng hoảng thừa với mức cung vượt cầu đến 50%.
Từ đó đến nay, bất kể sức mua của thị trường nội địa luôn tăng bình quân trên dưới 10%/năm, nhưng tình trạng thừa công suất chẳng những không giảm, mà còn ngày một nặng nề hơn.
Ngay từ năm 2005, nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng thừa của ngành thép đã được cơ quan quản lý nhà nước và các chuyên gia trong ngành mổ xẻ. Lúc đầu, hầu hết các ý kiến đều đổ lỗi cho chất lượng của bản quy hoạch ngành, vì đã đưa ra dự báo quá lạc quan so với thực tế về triển vọng phát triển của thị trường. Thế nhưng, bản quy hoạch sửa đổi, được Chính phủ phê duyệt vào năm 2007, cũng không giúp cải thiện tình trạng thừa công suất của ngành thép.
Từ 2005 đến nay, mức tiêu thụ thép xây dựng của Việt Nam đã tăng thêm hơn 60%, lên khoảng 5 triệu tấn/năm. Nhưng khoảng cách giữa cung và cầu thép thì không thu hẹp, thậm chí còn tăng lên 60%. Nếu tính theo số tuyệt đối, phần công suất dư thừa của ngành này hiện cao gấp đôi so với thời điểm 2005 và lên đến 3 triệu tấn.
“Quy hoạch năm 2007 đã dự báo khá chính xác chiều hướng phát triển của thị trường thép Việt Nam. Đây cũng là bản quy hoạch có chất lượng, nhờ được nhiều chuyên gia quốc tế trợ giúp”, ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, khẳng định.
Vấn đề đặt ra là vì sao tình trạng thừa công suất của ngành này không giảm, mà còn trầm trọng hơn? Theo ông Cường, lỗi chủ yếu là ở các cơ quan nhà nước và địa phương. Ông nói: “Các bộ, ngành và địa phương đã buông lỏng quản lý, không giám sát, không theo dõi, dẫn đến việc phát triển của ngành trong những năm qua chẳng theo quy hoạch nào”.
Năm ngoái, sau những kiến nghị của Hiệp hội Thép Việt Nam, Bộ Công Thương đã tiến hành rà soát, kiểm tra và phát hiện trong 65 dự án gang thép có công suất từ 100.000 tấn trở lên đang triển khai, chỉ có 17 dự án có trong quy hoạch và 16 dự án khác được bộ đồng ý cho bổ sung. 32 dự án còn lại là do các địa phương xé rào quy hoạch để cấp phép, trong đó có tới 24 dự án các địa phương đã vượt thẩm quyền, vì đó là những dự án lẽ ra địa phương không được quyền cấp giấy phép.
Trong 65 dự án gang thép có công suất từ 100.000 tấn trở lên đang triển khai, chỉ có 17 dự án có trong quy hoạch.
Không chỉ ngành thép, tình trạng thừa công suất cũng đang diễn ra ở nhiều ngành công nghiệp khác, như sứ vệ sinh, gạch ốp lát, xi măng... Điều đáng ngại là dự báo về nhu cầu trong quy hoạch của các ngành này đều khá chính xác, nhưng chính do quản lý lỏng lẻo và không theo quy hoạch, dẫn đến số lượng dự án được cấp phép đã vượt quá xa so với kế hoạch, nên khủng hoảng thừa là hiển nhiên.
Ngay như ngành xi măng, một trong những ngành được đánh giá là bị quản lý khá chặt, vì nó có liên quan đến việc khai thác các mỏ đá vôi, cũng bị vỡ quy hoạch và nay cũng đang bắt đầu thừa công suất. Lãnh đạo một công ty xi măng ở Hải Phòng cho rằng: “Bộ Xây dựng đã quá dễ dãi, hầu như dự án nào ngoài quy hoạch cũng được bộ “chiều” nhà đầu tư và cho bổ sung”.
Ông nói tiếp: “Mức thừa khoảng 5 triệu tấn trong năm nay không đáng ngại với ngành xi măng. Tôi chỉ lo lại có thêm nhiều dự án mới được phép bổ sung”. Hiện nay, dù xi măng đã bắt đầu thừa, nhưng vẫn có thêm tám dự án xi măng đang được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng để xin cho bổ sung vào quy hoạch.
Tác hại
Quy hoạch là một công cụ quản lý của cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm cho một ngành phát triển theo mong muốn, bảo đảm hiệu quả cao nhất cho bản thân của ngành đó cũng như nền kinh tế. Thế nhưng, việc buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng phát triển lộn xộn, không theo kế hoạch đã làm cho các quy hoạch chỉ còn mang tính hình thức và gây ra những tác hại không nhỏ.
Ông Phạm Chí Cường cho biết, quy hoạch của ngành thép đã được tính toán để cân đối với kế hoạch phát triển của các ngành điện, năng lượng, giao thông đường bộ và cảng biển. Việc điều chỉnh quy hoạch là cần thiết, nhưng nhất định phải bảo đảm các cân đối đó. Việc thiếu điện vừa qua chủ yếu do tiến độ xây các nhà máy điện bị chậm, nhưng cũng không loại trừ nguyên nhân phát triển không theo quy hoạch của các ngành, dẫn đến mất cân đối về cung, cầu điện.
Công bằng mà nói, sự ra đời của nhiều dự án luyện cán thép, cũng như các nhà máy sản xuất gạch ốp lát, xi măng... đã thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhằm tìm cơ hội sống sót trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Nhưng hậu quả của nó đối với từng ngành và cả nền kinh tế thì không nhỏ. Ông Đỗ Duy Thái, Tổng giám đốc Công ty Thép Việt, cho biết một dây chuyền sản xuất, nếu chỉ hoạt động khoảng 70% công suất trở lại, thì sẽ không hiệu quả. Rõ ràng, tình trạng thừa công suất đã trực tiếp làm cho hiệu quả đầu tư của nhiều ngành công nghiệp bị suy giảm.
Hậu quả của nó là chi phí sản xuất cao và khả năng cạnh tranh bị giảm sút. Kết quả này còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung của nền kinh tế. Ngoài ra, việc phát triển quá mức những ngành sử dụng nhiều năng lượng như thép, hoặc phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không tái tạo như xi măng... còn gây ra những tác động xấu về môi trường và việc bảo đảm an ninh năng lượng.
Sau đợt kiểm tra vào năm ngoái, Bộ Công Thương đã ban hành văn bản quy định về thủ tục đầu tư, trong đó xác định quy mô công suất và những điều kiện cần thiết nhằm khắc phục tình trạng xé rào quy hoạch. Bộ cũng yêu cầu các địa phương ngừng cấp chứng nhận đầu tư cho các dự án thép xây dựng thông thường và rà soát lại các dự án đã được cấp phép.
Nhưng theo ông Phạm Chí Cường, vấn đề quản lý quy hoạch từ sau khi bộ ban hành văn bản đến nay gần như vẫn không thay đổi. “Cuối tháng 7-2010 vừa qua, chúng tôi lại tiếp tục gửi văn bản lên Thủ tướng và Bộ Công Thương kiến nghị chấn chỉnh việc phát triển ngành thép”, ông Cường cho biết.
Bạn đã đạt được mục tiêu mà bạn đã đề ra trong cuộc sống chưa? Những giá trị ưu tiên trong cuộc sống của bạn là gì? Hãy đọc bài viết dưới đây, có thể bạn sẽ tìm ra câu trả lời thích hợp nhất.
“Quan sát thế giới từ sau cái bàn là một việc nguy hiểm” - điều này được tiểu thuyết gia Le Carre nêu ra. Vị tiểu thuyết gia nàycó liên quan tới hoạt động gián điệp quốc tế, nhưng nhận xét của ông thì có giá trị một cách công bằng với bất kỳ lãnh đạo cao cấp nào.
Các chuyên gia đã cảnh báo từ hơn bốn năm nay về các tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng đã được thành lập mà không có cơ sở pháp lý tương ứng. Ngoài ra, các tập đoàn hoạt động không hiệu quả và nhiều cảnh báo về những rắc rối pháp lý, kinh tế và khả năng đổ vỡ đã được đưa ra. Song đáng tiếc, nhiều người đã quá “say sưa với mô hình vĩ đại” với “các quả đấm thép”. Xem xét việc sử dụng nguồn lực và thành tích của khu vực kinh tế nhà nước, chúng ta sẽ rút ra kết luận gì?
Toàn cầu hoá là vấn đề không phải là mới nhưng để có những quan điểm về vấn đề này Pankaj Ghemawat đã tổng hợp rất nhiều ý kiến phản hồi từ các độc giả qua blog What in the world do mình phụ trách. Còn ý kiến của bạn về vấn đề này là gì?
Không có hình mẫu nào cho sự thành công của một trường đại học, không có hình mẫu cho một “trường đại học nghiên cứu toàn cầu” để chúng ta khát khao. Sự đa dạng sẽ tạo nên sức mạnh. Từ khi bắt đầu, các trường đại học đã phải tạo ra sức mạnh từ sức ép sáng tạo, giữa những nghiên cứu về tri thức ứng dụng và sức mạnh từ sự cống hiến cho những thứ tri thức vì một mục đích nhất định, đơn giản chỉ là để thỏa mãn, và thỏa trí tò mò.
Nếu theo logic đã được đưa ra bởi các sử gia như Alfred Chandler, người đã viết các cuốn sách kinh điển như Quy mô và Phạm vi (Scale and Scope) và Chiến lược và Cấu trúc (Strategy and Structure), thì các công ty tồn tại để khai thác lợi ích của quy mô lớn. Chúng tồn tại, nói một cách khác, là để tối đa hóa hiệu quả theo quy mô.
Một xu thế dễ nhận thấy chính là trong cuộc khủng hoảng hiện nay, chính phủ các nước can thiệp ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế và việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Luật gia Nguyễn Ngọc Bích, nhìn lại một cách công bằng, Vinashin đã nảy sinh và tồn tại trong khung cảnh của một sự hiểu biết sai lầm, thiếu thốn về kiến thức lẫn phương pháp của chính nó và - quan trọng hơn - của môi trường quanh nó. Trong vòng có ba năm mà lập ra hơn 200 công ty nhờ tiền được cấp phát và đi vay, nên không đếm xỉa gì đến hiệu quả đầu tư. Điều này không thể xảy trong một công ty được quản trị theo khoa học.
Làm thế nào để thay đổi tâm lý cá nhân từ trạng thái chán nản, bi quan sang lạc quan, chủ động, từ trạng thái tâm lý bất lợi sang có lợi là câu hỏi mà rất nhiều nhà quản lý băn khoăn khi họ đứng trước sức ép và trong những thời kỳ khó khăn.
Không ai có thể phủ nhận rằng chaebol đã giúp phát triển kinh tế Hàn Quốc. Tuy nhiên, chaebol đã bị coi là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997; từng gây sức ép buộc các nhà làm luật phải tạo ra những đạo luật có lợi cho công việc kinh doanh của họ, hoặc thậm chí kiếm nhiều lợi cho mình hơn là phục vụ các lợi ích công. Đó là chưa kể tới những quan hệ "bẩn" giữa các chính trị gia và chaebol, được kết nối các khoản tiền hối lộ, đút lót. Việc này làm suy yếu các nền tảng của kinh tế Hàn Quốc.
Trong lịch sử quản trị kinh doanh thì cách quản trị đã trải qua bốn trình độ, hay nó có bốn mức và mỗi mức tương ứng với một loại quy mô của công ty. Sơ đẳng nhất là quản trị theo sự thuận tiện; sau đó tiến lên quản trị theo khoa học; tiếp theo là quản trị tiên tiến (mức 3 - từ 1980 đến nay, với ISO) và quản trị hiện đại (mức 4 - từ 1990 trở đi, với ERP). Quản trị theo sự thuận tiện không thể tạo nên tập đoàn hay để cho tập đoàn tồn tại.
Khi cuộc khủng hoảng châu Á 1997 ập đến, các ngân hàng nước ngoài đồng loạt không chịu cho các chaebol đảo nợ. Một nửa trong số 30 chaebol hàng đầu (trong đó có Kia, SSangyong, Sammi, Jinro, Hanbo...) đã phá sản hoặc phải sáp nhập với các chaebol khác. Chính phủ Hàn Quốc đã buộc các tập đoàn lớn phải trải qua một quá trình cải tổ sâu rộng đến tận hôm nay. Việt Nam có thể học gì từ những kinh nghiệm này?
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.