Bất cứ ai quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của một quốc gia đều có thể kể một loạt yếu tố ảnh hưởng đến mức độ và tốc độ phát triển: vốn vật thể, vốn con người, công nghệ, thể chế...
Những yếu tố ấy hẳn là quan trọng nhưng, khoảng 10-15 năm trở lại đây, một cuộc tranh luận đã diễn ra trong giới kinh tế về thành tố sâu xa nhất của phát triển, cụ thể là: có yếu tố nào căn bản hơn, đằng sau những yếu tố nói trên? Thắc mắc này là tất yếu vì lẽ, chẳng hạn như, dù xác định được vai trò của tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ trong phát triển kinh tế, vẫn còn có thể hỏi: Thế thì tại sao có sự chênh lệch rộng lớn giữa các xã hội về tốc độ tích lũy và “cải tiến”?
Có ba trường phái chính trong cuộc tranh luận này. Trường phái thứ nhất, tạm gọi là phái địa lý, mà thủ lĩnh là nhà kinh tế Jeffrey Sachs. Trường phái thứ hai, thường được gọi là trường phái hội nhập, mà kinh tế gia tiêu biểu là David Dollar. Trường phái thứ ba là trường phái thể chế, thường gắn liền với tên Daron Acemoglu và Dani Rodrik.
I. Địa lý là tất cả?
Thứ nhất là địa lý. Lý thuyết này được nhiều tác giả ngoài kinh tế (Montesquieu, Jared Diamond) nói đến từ rất lâu. Jeffrey Sachs (Đại học Columbia) và các đồng sự có ý kiến rằng vị trí nhiệt đới, không có bờ biển, và sự tùy thuộc vào “hàng hóa” (nhất là tài nguyên thô, thay vì dịch vụ) là những yếu tố trực tiếp cản trở phát triển. Không phải tình cờ mà hầu hết các nước chậm phát triển đều ở vùng nhiệt đới. Địa lý là yếu tố quyết định của khí hậu, của tài nguyên thiên nhiên, của nhiều thứ bệnh tật, của tổn phí giao thông và vận chuyển. Chướng ngại địa lý cũng ngăn cản sự lan truyền kiến thức, phát minh, từ những vùng tiến bộ đến những vùng hậu tiến, qua đó địa lý có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất nông nghiệp và “chất lượng của tài nguyên con người”.
William Easterly (cũng ở Đại học Columbia) và đồng sự là Ross Levine là tiêu biểu cho những người chống đối mạnh mẽ “giả thuyết địa lý” của Sachs. Họ nhìn nhận khí hậu nhiệt đới, mùa màng, và bệnh tật có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, song chỉ là gián tiếp, qua ảnh hưởng đến thể chế. Không thể xem chúng là căn nguyên của (sự chậm) phát triển được, họ khẳng định.
Trả lời Easterly và Levine, Sachs dùng mô hình kinh lượng của chính hai người này để chứng minh rằng bất kỳ thể chế tốt hay xấu, hễ nước nào nhiều sốt rét thì không tăng trưởng nhanh được. Sachs đắc thắng kết luận: địa lý vẫn là căn bản nhất! Song, khách quan mà nhìn thì Sachs chỉ chứng minh sốt rét là quan trọng. Từ đó sẽ là một bước nhảy vọt niềm tin để cho rằng địa lý nói chung là quan trọng.
Tuy là người chủ xướng yếu tố “địa lý” nhưng Sachs nói rõ là ông không hề cho rằng mỗi quốc gia đều có một “định mệnh” không thể tránh (không ai có thể di dời một quốc gia!). Ông chỉ rõ: Một quốc gia không có bờ biển thì vẫn có thể xây đường, đào kênh ra biển, một quốc gia vì khí hậu mà bị sốt rét thì vẫn có thể diệt trừ sốt rét. Chính vì thế mà Sachs cũng là người cực lực biện hộ cho viện trợ quốc tế (để xây đường, diệt sốt rét…), cho rằng ngoại viện là hữu ích, thậm chí tối cần cho phát triển. Sachs cũng nhìn nhận là nhiều quốc gia miền ôn đới, và không có những bất lợi về địa lý (ví dụ như các nước Bắc Phi ven Địa Trung Hải, các nước ở châu Mỹ Latinh...) mà vẫn chậm phát triển. Đối với những nước này, Sachs quay sang các yếu tố “xã hội”.
II. Tiếp cận hội nhập
Trường phái thứ hai, dẫn đầu là David Dollar (kinh tế gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới, đã có thời làm việc ở Việt Nam) thì khẳng định rằng căn nguyên phát triển của một quốc gia là khối lượng thương mại giữa quốc gia ấy và thế giới. Nói rõ hơn, tiếp cận này cho rằng thương mại quốc tế là đầu tàu của gia tăng năng suất, tiến bộ công nghệ và nâng cao thu nhập. Quan điểm này thường được gọi là “quan điểm hội nhập” vì nó gán tầm quan trọng bậc nhất cho sự hội nhập thị trường. Những tranh luận (mà ai cũng biết) về “toàn cầu hóa”, hiển nhiên, là tranh luận về sự đúng hay sai của quan điểm hội nhập.
Cũng nên phân biệt hai dạng khác nhau của trường phái này. Dạng thứ nhất (có thể gọi là dạng “ôn hòa”) cho rằng thương mại sẽ là một nguồn tăng trưởng sau khi những nền móng thể chế đã được thiết lập. Hầu như mọi nhà kinh tế học đều chấp nhận ý kiến này. Dạng thứ hai thì “cực đoan” hơn, cho rằng thương mại/hội nhập là yếu tố căn bản nhất quyết định tốc độ tăng trưởng của một quốc gia kém mở mang. Chính dạng “cực đoan” này là chủ trương của các công trình của Sachs và Warner (1995) và Dollar và Kraay (2004)
III. Thể chế là quan trọng nhất?
Quan điểm thứ ba xoay quanh “thể chế” - đặc biệt là vai trò của quyền sở hữu (property rights) là luật định (rule of law). Theo quan điểm này (dẫn đầu là Douglass North (1990)) thì cái quan trọng là “luật chơi” trong xã hội. Luật chơi này được định (công khai hay tiềm ẩn) bởi các chuẩn mực ứng xử và khả năng mà các chuẩn mực này tạo ra những động cơ kinh tế thích hợp cho con người. Hai nhân vật chính của trường phái thể chế hiện đại là Daron Acemoglu và Dani Rodrik, tuy nhiên, giữa hai người này cũng có nhiều khác biệt đáng kể.
1. Daron Acemoglu
Daron Acemoglu (giáo sư kinh tế ở MIT) đồng ý với Sachs rằng có một tương quan giữa địa lý và phát triển: không phải tình cờ mà hầu hết các nước kém phát triển đều ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, theo Acemoglu, điều này chưa phải là bằng cớ địa lý là lý do chính của tình trạng kém mở mang. Ông đưa nhiều ví dụ cho thấy một số những nước miền nhiệt đới mà hiện nay rõ là nghèo thì trong quá khứ đã có lúc khá phát triển (thậm chí so với các quốc gia ôn đới thời ấy) vậy thì cái nghèo hiện nay đâu phải vì địa lý?
Acemoglu sử dụng một phương pháp khá mới lạ (và cực kỳ công phu) để khám phá căn nguyên của phát triển: ông so sánh ảnh hưởng của chế độ thực dân trên các vùng đất bị trị: từ Bắc Mỹ, Mỹ Latinh, đến Úc, châu Phi... Ngoài những khác biệt về khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên thiên nhiên, mật độ dân số… Acemoglu phát hiện rằng nơi nào mà “thực dân” tạo được một thể chế rập khuôn mẫu quốc (như ở Mỹ, Canada, hoặc Úc, và ở vài thuộc địa khác mà thể chế của thực dân chỉ nhằm khai thác tài nguyên địa phương) thì sau khi bị thực dân đô hộ, nơi đó phát triển hơn là trước khi bị đô hộ.
Tất nhiên, Acemoglu không ngây thơ đến độ cho rằng chính sách thực dân là có lợi cho phát triển. Chính xác hơn, ông nhận thấy những nơi nào (vì khí hậu ôn hòa, dân chúng “dễ bảo”) thì thực dân (hầu hết là từ châu Âu) đến định cư đông, có thời giờ áp đặt thể chế đã thành công ở mẫu quốc, và do đó các nơi ấy phát triển nhanh chóng (Mỹ, Canada, Úc…). Trái lại, những nơi nhiều bệnh tật, khí hậu không hợp với người châu Âu, hay “thổ dân” chống đối mạnh mẽ, thì thực dân chỉ đến, khai thác tài nguyên cho nhanh, rồi bỏ đi mà không thiết lập thể chế cho nơi ấy.
Acemoglu nghiêng về “trường phái thể chế” vì những phát hiện như thế. Acemoglu cũng nhận định rằng địa lý có thể ảnh hưởng đến thể chế mà thực dân phương Tây đem áp đạt ở thuộc địa. Chẳng hạn như nếu thuộc địa chỉ là để khai thác khoáng sản thì thể chế cai trị phải là khác thể chế ở các thuộc địa “loại” khác (như đồn điền).
2. Dani Rodrik
Dani Rodrik (một giáo sư kinh tế gốc Thổ Nhĩ Kỳ, hiện dạy ở Harvard) thì có ý khác. Rodrik khẳng định các nghiên cứu kinh lượng học đã cho một kết quả rõ ràng: chất lượng của thể chế là quan trọng hơn bất cứ yếu tố nào khác. Theo ông thì “địa lý”, chẳng hạn, tuy ảnh hưởng trực tiếp đến mức thu nhập, nhưng có ảnh hưởng gián tiếp mạnh hơn, qua ảnh hưởng của nó đến thể chế. Tương tự, ngoại thương có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thể chế, nhưng nó không có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập.
Tuy nhìn nhận đóng góp của Acemoglu và đồng sự, Rodrik và các người theo ông cho rằng Acemoglu đã lẫn lộn (hay mập mờ) về “nguồn gốc thuộc địa”. Theo Rodrik, công trình của Acemoglu chỉ là một cách kiểm chứng giả thuyết về sự quan trọng của thể chế, kết luận của nó không thể được xem như bằng cớ là thuộc địa có ảnh hưởng tích cực cho phát triển. Rodrik và cộng sự đặt câu hỏi: Nếu quả “kinh nghiệm thuộc địa” là yếu tố quyết định mức thu nhập thì làm sao giải thích sự chênh lệch thu nhập giữa những nước chưa bao giờ là thuộc địa của phương Tây?
Nói khác đi, người đọc Acemeglu có thể lầm tưởng rằng đó là một thuyết về “nguồn gốc thuộc địa của thể chế”. Rodrik nhấn mạnh: Đúng là thuộc địa có ảnh hưởng phần nào, nhưng nó không thể là ảnh hưởng chính yếu, ở bất cứ nơi nào. Hơn nữa, Rodrik lập luận, nhìn thật kỹ thì “thuyết thuộc địa” của Acemoglu có khác gì “thuyết địa lý” của Sachs đâu?
IV. Đánh giá
Như đã nói ở phần dẫn nhập, ba tiếp cận vừa lược duyệt là tiêu biểu của xu hướng nghiên cứu kinh tế trong những năm gần đây. Tuy cuộc tranh cãi này là cực kỳ lý thuyết, chỉ một nhóm nhỏ trong giới kinh tế là thích thú theo dõi, nó có nhiều hậu quả quan trọng vì những nhân vật chính (Sachs, Dollar, Acemoglu, Rodrik…) lại là những “khuôn mặt lớn” trong những thảo luận về chính sách phát triển và thương mại hiện nay.
Một trong những bài học thực tế liên hệ đến vai trò của ngoại viện. Người tin vào địa lý (như Sachs) thì cho rằng viện trợ nước ngoài là thiết yếu cho phát triển kinh tế; người không tin (như Easterly) thì cho rằng viện trợ là vô ích, thậm chí còn có hại. Giả thuyết của Acemoglu cũng có nhiều hệ luận liên quan đến dân chủ và trình độ giáo dục (cụ thể: dân trí có cần thiết cho dân chủ hay không?).
Tuy nhiên, như Rodrik ghi nhận: Dù có tìm được “căn nguyên tối hậu” của sự giàu nghèo của một quốc gia, chưa chắc chúng ta có thể rút ra những bài học rõ ràng về chính sách. Ví dụ, xác định rằng “pháp trị” (rule of law) là một nhân tố của phát triển không có nghĩa là chúng ta biết cách để kiện toàn nó trong hoàn cảnh cá biệt của một quốc gia. Một ví dụ nữa, dù xác định được rằng “địa lý là cốt yếu” thì cũng không có nghĩa chủ nghĩa “địa lý tất định” (geographic determinism) là đúng. Xác định ấy chỉ cho thấy những chướng ngại mà người làm chính sách phải vượt qua. Tuy giả thuyết “địa lý là tất cả” của Sachs bị nhiều chống đối nhưng có lẽ phần lớn lý do là Sachs chỉ nghĩ đến những đặc tính địa lý thông thường như khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình...Nhưng “địa lý” còn gồm “địa chính trị” nữa.
Một nước nhỏ mà vì số phận phải nằm kề một nước khổng lồ thì dù có nhiều thuận lợi về các phương diện khác cũng khó tránh vòng cương tỏa - về văn hóa, kinh tế - của người láng giềng lớn. Và chính vòng cương tỏa ấy đặt ra những ràng buộc nhất định mà các tiếp cận khác (hội nhập, thể chế) nhấn mạnh. Nhìn từ góc cạnh này, tiếp cận thể chế và tiếp cận địa lý không phải là không có điểm tương đồng.
Dù có tìm được “căn nguyên tối hậu” của sự giàu nghèo của một quốc gia, chưa chắc chúng ta có thể rút ra những bài học rõ ràng về chính sách. Ví dụ, xác định rằng “pháp trị” (rule of law) là một nhân tố của phát triển không có nghĩa là chúng ta biết cách để kiện toàn nó trong hoàn cảnh cá biệt của một quốc gia.
Vấn đề ngay trước mắt là khủng hoảng tài chính: các chính phủ đã chi đậm để chống đỡ cho các ngân hàng và thoát khỏi một cuộc đại suy thoái. Khi mà tổng nợ chính phủ trung bình của các nước OECD đã vượt 100% GDP và thị trường sợ sẽ có thêm những Hy Lạp mới, mọi chính phủ đều đang chịu sức ép đưa ra một kế hoạch giảm thâm hụt đáng tin cậy.
“Người ta bị thúc đẩy bởi những thứ khác và giới báo chí moi móc nhiều hơn. Bạn không thể thưởng hậu cho nhân viên giỏi… Trong kinh doanh bạn được thử nghiệm và ủng hộ dự án nào thành công. Bộ phận tốt được đầu tư, bộ phận kém bị loại bỏ. Trong chính quyền bộ phận kém lại nhận được mọi sự chú ý vì họ có những “thần hộ mệnh” đáng sợ nhất.”
Khu District of Columbia cho thấy thuê làm ngoài có thể tiết kiệm được bao nhiêu, họ giảm được 80% chi phí e-mail và 90% chi phí lưu video nhờ chuyển sang dùng Gmail và Youtube. Các cơ quan trong khu vực công cùng chức năng nhưng hiệu quả hoạt động khác nhau đến ngỡ ngàng. Chi tiêu chăm sóc sức khỏe trên đầu người của Thụy Điển chỉ bằng một nửa Mỹ nhưng dân Thụy Điển vẫn sống lâu hơn.
Trí óc con người ta thường lúng túng và lầm lẫn trước vấn đề tự do kinh tế. Trong suốt hai thế kỉ qua phương Tây đã là nơi thể hiện tính ưu việt của tự do kinh tế, nhưng như nhà thần học Michael Novak đã chỉ ra: “Trong lịch sử trí tuệ phương Tây, thóa mạ tự do kinh tế là một trong số ít đề tài được nhiều người thảo luận nhất”.
Đó là chữ “trí” trong “phi trí bất hưng”, một đúc kết mang tính quy luật về sự hưng thịnh của một quốc gia. Nhưng liệu có đúng thế không nhỉ?
Bằng cách giúp đỡ các công ty mới có nhiều sáng tạo trở thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ lớn, các nhà hoạch định chính sách có thể tăng tốc độ hồi phục kinh tế một cách nhanh chóng. Và tương lai kinh tế được kỳ vọng sẽ thuộc về những doanh nghiệp trẻ tuổi.
Năm 2010 đã trôi qua với nhiều cung bậc cảm xúc trong mỗi con người. Dù thuộc thành phần nào trong xã hội, chắc hẳn mỗi cá nhân đều có những nghĩ suy, cảm nhận riêng về một năm họ đã sống, làm việc, buồn vui, trăn trở, ước muốn... Năm 2011 đã đến, và mỗi người vẫn tiếp tục sống với công việc của mình, trong môi trường thực tế quanh mình.
Kể từ khi bắt đầu cải cách năm 1978 cho đến nay, Trung Quốc đã có 32 năm tăng trưởng liên tục với tốc độ trung bình 10%/năm. Nhờ đó, GDP của Trung Quốc năm 2010 gấp hơn 20 lần so với năm 1978.
Nhìn tựa bài có thể có vị nghĩ bụng: dớ dẩn, bây giờ là tháng Chạp chứ có phải tháng Bảy đâu! Dạ không, tôi không dám đề cập đến cái đề tài linh thiêng ấy vào dịp này, mà chỉ dùng từ ngữ để làm cho rõ một vấn đề đã lôi kéo sự quan tâm của chúng ta khá nhiều trong năm qua. Đấy là tập đoàn kinh tế.
Lý thuyết kinh tế đã nêu hai quan điểm cơ bản về tham nhũng. Quan điểm thứ nhất coi tham nhũng là yếu tố ngoại sinh; còn quan điểm thứ hai cho rằng tham nhũng là nhân tố nội sinh trong chính trị.
Khi hiệu quả kinh tế của tập đoàn Vinashin được đưa ra mổ xẻ, nhiều người cho rằng thực chất doanh nghiệp này đã phá sản nhưng chủ sở hữu không tuyên bố phá sản. Có thể do chủ sở hữu e ngại từ “tuyên bố phá sản” nên không tiến hành các thủ tục phá sản mà ngầm hiểu đã “phá sản” để tiến hành các biện pháp tái cơ cấu.
Quản trị có triết lý không? Câu trả lời là có. Bởi lẽ doanh nghiệp là một thực thể cấu tạo từ những con người để chinh phục một số con người. Có con người là có triết lý. Nói gọn ghẽ, đó là triết lý để tư duy và hành động.
Tăng trưởng kinh tế cao không nhất thiết sẽ đi đôi với việc con người có được những điều kiện sống, như giáo dục và y tế, tốt hơn. Ở nhiều nơi, tăng trưởng kinh tế nhanh không mang lại sự thay đổi cho đa số người dân.
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.