Công nhân một nhà máy sản xuất xi măng ở TPHCM. Ảnh: Kinh Luân.
Bốn trong 16 dự án xi măng trước đây được Chính phủ bảo lãnh vay vốn đã phải cầu cứu Bộ Tài chính trả thay những món nợ đến hạn. Có thể nói, sai lầm của thời xi măng lò đứng nay lại tái diễn.
Hậu quả của việc nhập thiết bị cũ
Một số doanh nghiệp ngành xi măng cho rằng đây chỉ mới là phần nổi và đằng sau đó còn rất nhiều công ty xi măng khác đang trong tình cảnh vô cùng khó khăn.
Năm 2010, Trung Quốc cho khai tử 300 triệu tấn công suất xi măng, trong đó hầu hết là công nghệ lò quay công suất 1 triệu tấn mỗi năm. Việc loại ra những thiết bị, công nghệ lạc hậu là điều bình thường, nhưng điều không bình thường ở đây là các loại thiết bị và công nghệ ấy lại được ồ ạt nhập khẩu vào Việt Nam trong 5-6 năm qua. Một doanh nhân có thâm niên trong ngành xi măng ước tính: “Hiện có khoảng 60-70% nhà máy xi măng kiểu lò quay ở Việt Nam sử dụng thiết bị và công nghệ của Trung Quốc”.
Trong thập niên 1990 của thế kỷ trước, Việt Nam đã từng phải trả giá cho phong trào phát triển xi măng lò đứng. Chỉ trong 7-8 năm, các địa phương đã ồ ạt nhập về hơn 50 dây chuyền sản xuất xi măng công nghệ lò đứng của Trung Quốc, để rồi chẳng bao lâu sau, đến năm 2004, nhiều nhà máy bị Chính phủ yêu cầu phải khai tử vì công nghệ lạc hậu, lãng phí năng lượng, gây ô nhiễm môi trường và quan trọng hơn là không có hiệu quả kinh tế.
Có thể thấy, bài học công nghệ lò đứng còn chưa kịp lắng xuống thì ngành xi măng đã lại mắc ngay vào một sai lầm mới. Đó là phong trào làm xi măng lò quay và cũng với thiết bị và công nghệ lạc hậu của Trung Quốc. Đại diện một công ty xi măng cho biết, loại công nghệ lò quay công suất 1 triệu tấn/năm của Trung Quốc có suất tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng nhiều hơn hẳn so với của châu Âu. Chất lượng thiết bị kém, dễ hỏng hóc trong quá trình vận hành nhưng bù lại, giá rất rẻ và có thể làm nhanh, vì Trung Quốc lúc nào cũng có sẵn thiết bị để bán, không như các công ty châu Âu, chỉ chế tạo theo đơn đặt hàng.
Đầu tư thiết bị, công nghệ rẻ tiền không hiệu quả hơn so với những dây chuyền sản xuất hiện đại của Nhật hay châu Âu. Điều này doanh nghiệp nào cũng biết. Tuy nhiên, vì thiết bị của Trung Quốc quá rẻ, lại mua được ngay, cộng với thị trường xi măng trong những năm 2004-2005 trở về trước luôn trong tình trạng cung nhỏ hơn cầu, đã thúc đẩy phong trào đầu tư xi măng bằng thiết bị Trung Quốc. Chỉ trong vòng bảy năm, công suất thiết kế của ngành xi măng tăng gần ba lần, trong khi nhu cầu tiêu thụ chỉ tăng được gấp đôi. Việc đầu tư ồ ạt và rất nhiều nhà máy mới vào vận hành gần như cùng lúc đã làm cho thị trường xi măng nhanh chóng trở nên “bội thực”.
Cạnh tranh để tất cả cùng chết
Khó khăn của nhiều doanh nghiệp xi măng hiện nay không hẳn chỉ do tác động của chính sách chống lạm phát của Chính phủ, mà đã xuất hiện từ mấy năm trước. “Để duy trì dòng tiền, hòng có thể trả được các khoản nợ khi đến hạn thanh toán trong điều kiện thị trường cung vượt cầu, nhiều doanh nghiệp xi măng chưa có tên tuổi đã chọn giải pháp hạ giá bán thành phẩm để cạnh tranh, thậm chí là bán dưới giá thành”, giám đốc một công ty xi măng nói và theo ông “đây là giải pháp liều lĩnh. Nhiều công ty đến nay đã mất khả năng trả nợ”.
Cuộc cạnh tranh trong ngành xi măng hiện nay dường như không có người thắng, kẻ bại, mà tất cả cùng chết. Đại diện một doanh nghiệp cho biết nếu khấu trừ trượt giá do lạm phát, thì giá xi măng hiện nay thậm chí còn thấp hơn giá của năm 2003-2004. Trong khi đó, mọi chi phí đầu vào đều tăng gấp đôi, thậm chí có cái tăng gấp ba, nên ngành này từ chỗ có hiệu suất sinh lời cao, nay đã trở thành một trong những ngành ít hiệu quả nhất.
Sự thiếu đồng bộ giữa phát triển ngành xi măng và cơ sở hạ tầng cũng là nguyên nhân quan trọng đẩy nhiều doanh nghiệp xi măng, nhất là các công ty ở phía Bắc rơi vào khó khăn. Do phân bố tự nhiên của nguồn nguyên liệu là đá vôi, nên hầu hết các nhà máy xi măng tập trung ở các tỉnh phía Bắc. Cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém khiến cho chi phí vận chuyển xi măng từ Bắc vào Nam để tiêu thụ rất cao. “Việt Nam đến nay vẫn chưa có cảng để xuất xi măng, clinker”, một doanh nghiệp ngành xi măng nói. Ông cho biết, để chuyển xi măng, clinker từ khu vực Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, nơi tập trung số lượng nhà máy xi măng dày đặc nhất nước, phải bốc hàng lên xe tải, chở đến bến sông gần đó rồi bốc lên sà lan để chở ngược ra cảng Cửa Dừa ở Quảng Ninh, sau đó bốc từ sà lan sang tàu lớn để đưa vào Nam. Tổng cộng cước phí vận chuyển khoảng 700.000-800.000 đồng/tấn, tương đương 40-45% giá bán lẻ. Điều này giải thích vì sao hầu hết những công ty xi măng có nguy cơ phá sản đều tập trung ở các tỉnh Bắc Trung bộ, Hà Nam và Ninh Bình.
Vai trò của Nhà nước ở đâu?
Khó khăn mà ngành xi măng đang đối mặt trước hết là do lỗi của doanh nghiệp, nhưng khiếm khuyết của cơ quan quản lý nhà nước cũng góp phần không nhỏ.
Trước hết, Nhà nước đã không kiểm soát được chất lượng thiết bị và công nghệ nhập khẩu. Năm 2004, khi yêu cầu các nhà máy xi măng lò đứng phải đóng cửa hoặc chuyển đổi sang công nghệ lò quay, các cơ quan quản lý nhà nước đã không rút bài học kinh nghiệm từ công nghệ lò đứng để ngăn tình trạng này tái diễn với công nghệ lò quay, mà còn để cho những thiết bị và công nghệ bỏ đi của Trung Quốc ồ ạt nhập vào Việt Nam.
Thứ hai, công tác quản lý quy hoạch không chặt chẽ. Rất nhiều dự án do các địa phương xé rào hoặc vì lý do nào đó đã được chấp thuận cho bổ sung vào quy hoạch, cho dù đã có những cảnh báo về nguy cơ thừa xi măng. Thậm chí, có tỉnh còn tự đứng ra làm nhà máy xi măng, lấy cả vốn ODA của Chính phủ phân bổ cho mục tiêu khác để làm, rồi kham không nổi, phải bỏ cuộc giữa chừng.
Thứ ba, công tác dự báo thị trường còn nhiều khiếm khuyết. Các dự báo về nhu cầu phát triển của thị trường thường là viễn cảnh tươi sáng, với sự gia tăng đều đặn. Không có những dự báo về tình huống xấu, chẳng hạn như tác động của khủng hoảng kinh tế, của lạm phát...
Ngoài ra, Việt Nam cũng ảo tưởng về khả năng xuất khẩu xi măng. Các vị lãnh đạo của một số cơ quan quản lý nhà nước trước đây đã tỏ ra hào hứng khi nói về viễn cảnh Việt Nam sẽ có dư xi măng để xuất khẩu. Chỉ đến khi bắt tay vào nghiên cứu, tìm hiểu, các doanh nghiệp xi măng mới nhận ra xuất khẩu xi măng gần như là không khả thi (ngoại trừ bán một ít sang Lào, Trung Quốc), vì điều kiện cơ sở hạ tầng, chi phí vận chuyển, thị trường và một loạt các vấn đề hậu cần khác. Có lẽ do quá tin tưởng vào xuất khẩu, nên những cảnh báo về khả năng thừa xi măng đã không được các cấp quản lý quan tâm.
Xuất khẩu đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với ngành xi măng trong bối cảnh nguồn cung đã quá dư thừa so với nhu cầu. Nhưng theo một số doanh nghiệp trong ngành, đây là hướng đi bất khả thi.
Thị trường bất động sản đóng băng kéo theo ngành vật liệu xây dựng vốn nhiều sôi động trong những tháng cuối năm trở nên ế ẩm. 8 tháng liên tiếp con số tăng trưởng của thị trường này luôn dưới 5% khiến hàng loạt DN lao đao.
Trong đề án quy hoạch chi tiết phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh Ninh Bình kiên quyết loại bỏ công nghệ sản xuất ximăng lò đứng vào năm 2015.
Sau gạch ốp lát, thép, giờ đến lượt ngành xi măng rơi vào tình trạng dư thừa công suất. Đã có một số nhà máy được các chủ đầu tư rao bán để lấy tiền trả nợ. Trong ngành, cụm từ “phá sản” đang được nhắc tới…
Gần đây, tre được ca ngợi như một vật liệu siêu mới, có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, từ dệt may đến xây dựng. Tre cũng có khả năng hấp thụ một lượng lớn carbon dioxide - loại khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất, và giúp nhiều người nghèo có thể kiếm tiền.
Ngày 29/8, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp ximăng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030.
Thị trường bất động sản đóng băng, kéo theo thị trường sắt thép, xi măng... đóng băng theo. Cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng và doanh nghiệp sản xuất đã và đang điêu đứng.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và đổi mới với mục tiêu đô thị hóa, Vietnam đã tạo dựng được 1 gateway thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực và thế giới. Theo thống kê gần đây Vietnam phát triển và tăng trưởng ngoạn mục đặc biệt là ngành xây dựng (18,7%) vượt 5% so với kế hoạch mà chính phủ đã đề ra tuy tình hình kinh tế thế giới vẫn nhiều bất ổn và nan giải.
Từ đầu năm đến nay, giá cả các nguyên vật liệu đầu vào, lãi suất tín dụng tăng cao, cộng thêm biến động tỷ giá, thị trường bất động sản "ì ạch"... khiến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế chao đảo, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD). Những tháng cuối năm đã có những tín hiệu khả quan như tín dụng bất động sản được nới lỏng, giá thành các nguyên vật liệu bớt biến động, nhưng vẫn còn không ít khó khăn đối với các doanh nghiệp sản xuất VLXD.
Các con số thống kê từ đầu năm cho thấy, nếu không chịu nhiều tác động về điều chỉnh giá nguyên liệu đầu vào: than, điện, dầu..., năm 2011, tổng công suất sản xuất xi-măng cả nước là hơn 60 triệu tấn, trong đó dư thừa khoảng 10 triệu tấn. Ðiều này vừa gia tăng sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xi-măng, đồng thời ảnh hưởng đến nguồn cung các nguyên liệu đầu vào.
Tận dụng nhiệt khí thải phát điện sử dụng trong nhà máy ximăng nhằm giảm bớt việc sử dụng điện lưới quốc gia hiện được coi là biện pháp tiết kiệm điện năng đang được ngành công nghiệp ximăng Việt Nam rất quan tâm.
Đầu năm, sức tiêu thụ đối với các loại vật liệu xây dựng thường không cao. Năm nay, việc hầu hết các mặt hàng đều tăng giá đã khiến cho thị trường này càng yên ắng.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.