Năm 2010, dự kiến sản lượng xi măng dư thừa lên tới 4- 5 triệu tấn. Con số dư thừa sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo khi các dự án mới đi vào hoạt động hết công suất. Giải pháp xuất khẩu xi măng được nhắm tới nhưng ít khả thi.
Bởi ngay việc chuyển clinker từ phía Bắc vào Nam, nhiều doanh nghiệp đã kêu lỗ thì việc xuất khẩu làm sao có lợi nhuận khi phí vận chuyển quá cao. Các doanh nghiệp ngành xi măng đang chịu nhiều áp lực về thị trường tiêu thụ… Đây là hậu quả tất yếu của việc đua nhau cấp phép cho các dự án xi măng thời gian qua ở các tỉnh phía Bắc.
Năm 2011 thừa khoảng 4,5- 5 triệu tấn xi măng
Xi măng là một ngành công nghiệp đặc thù bởi nhà máy phải gắn với vùng nguyên liệu đá vôi, mỏ sét. Lẽ ra, việc phát triển ngành xi măng phải có quy hoạch vùng cụ thể, căn cứ trên nhu cầu tiêu thụ cũng như điều kiện thực tế của từng địa phương. Nhưng vài năm gần đây, như để lấy thành tích phát triển công nghiệp, các địa phương thi nhau cấp phép cho các dự án nhà máy xi măng. Tình trạng “trăm hoa đua nở” đang dẫn tới hậu quả khủng hoảng thừa xi măng.
Hiện cả nước có tới 108 dây chuyền xi măng đã được đầu tư khai thác với công suất thiết kế là 65 triệu tấn. Dự kiến trong năm 2011 có thêm 12 dây chuyền với công suất 9,35 triệu tấn; năm 2012 thêm 7 dây chuyền, công suất 6,72 triệu tấn và năm 2015 thêm 7 dây chuyền nữa được hoàn thành, nâng tổng công suất lên gần 100 triệu tấn/năm… Vụ vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết: Kế hoạch năm 2010 các doanh nghiệp sản xuất ở mức 53- 54 triệu tấn, trong khi đó mức tiêu thụ chỉ ở con số 50 triệu tấn. Như vậy sản lượng xi măng dư thừa trong năm sẽ lên tới 3- 4 triệu tấn. Nếu tình hình không được cải thiện, sang năm 2011, lượng xi măng dư thừa dự tính sẽ ở khoảng 4,5- 5 triệu tấn, năm 2012 sẽ là 8 triệu tấn…
Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, việc cung vượt quá cầu sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Người tiêu dùng được hưởng lợi từ việc cạnh tranh. Bản thân doanh nghiệp phải năng động hơn, sáng tạo hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để sản phẩm làm ra có chỗ đứng… Tuy nhiên, để ngành xi măng phát triển quá nóng như hiện nay hoàn toàn không phải là cách làm khoa học. Trong khi tư duy “thừa hơn thiếu” đã ăn sâu bám rễ trong đầu một số nhà quản lý dẫn đến việc bạo tay cấp phép tràn lan các dự án xi măng mới. Điều suy nghĩ là chính các nhà đầu tư vào làm xi măng lại khá mơ hồ với con số dự án đang được cấp phép. Việc dư thừa sản lượng xi măng hiện nay là hậu quả tất yếu của cách làm ngẫu hứng, không tuân thủ quy luật cung cầu.
Những thập kỷ trước, ngành xi măng Việt Nam trong tình trạng cung không đủ cầu, phải nhập klinker từ các nước như: Thái Lan, Trung Quốc… Trước bối cảnh đó, việc đưa ra một quy hoạch tổng thể nhằm phát triển ngành công nghiệp xi măng xứng tầm là chiến lược đúng đã được triển khai. Thực tế, những con số dự báo về nhu cầu theo quy hoạch của ngành xi măng khá chính xác. Nếu việc đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất xi măng tuân thủ đúng theo quy hoạch sẽ tạo điều kiện cho thị trường phát triển ổn định, bền vững. Nhưng, tiếc rằng vài năm trở lại đây, do quản lý lỏng lẻo và không theo quy hoạch nên các dự án xi măng được cấp phép tràn lan, vượt quá xa so với dự kiến. Ngành nào cũng ôm mộng làm xi măng. Tỉnh nào có núi đá cũng tấp tểnh mở nhà máy. Cứ ngỡ bốc đá, sét đưa vào nung là ra tiền, chả cần biết đến để có một dây chuyền làm xi măng thì vốn đầu tư đâu có nhỏ, từ 3000- 4000 tỷ đồng.
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam do Bộ Xây dựng thiết kế cho thấy tổng công suất các nhà máy sản xuất xi măng đã, đang và sẽ hoạt động trong cả nước đến năm 2010 ở mức 61 triệu tấn/năm. Trong khi đó, dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng trong giai đoạn này chỉ là 40- 45 triệu tấn/năm. Nhưng đến nay những tính toán của quy hoạch này đã bị phá vỡ. Hiện tổng công suất các dự án xi măng đã phê duyệt trong cả nước lên đến 115 triệu tấn/năm, chưa kể hàng chục dự án vẫn đang nằm chờ cấp phép…
Lời giải nào cho bài toán thị trường
Trước nguy cơ sản lượng xi măng dư thừa ngày càng lớn, Bộ Xây dựng đã có một loạt động thái nhằm giải quyết khó khăn cho ngành xi măng. Bên cạnh việc đề xuất Chính phủ chỉ đạo các địa phương ngưng cấp phép các dự án mới, Bộ yêu cầu các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty liên doanh như xi măng Nghi Sơn, xi măng Chinfon Hải Phòng, xi măng Phúc Sơn… nhanh chóng xúc tiến tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Cụ thể, trong 6 tháng cuối năm 2010, mỗi công ty phải xuất khẩu từ 100.000- 150.000 tấn xi măng. Nhưng xuất khẩu xi măng đâu có hiệu quả nên nhiều doanh nghiệp làm xi măng không mấy mặn mà là điều dễ hiểu.
Việc tìm đầu ra cho xi măng bằng con đường xuất khẩu chỉ là giải pháp tình thế. Xuất đi đâu với giá thế nào vẫn là bài toán chưa có lời giải. Xuất khẩu xi măng chỉ có lỗ bởi phí vận chuyển sao gánh nổi? Theo phân tích của các chuyên gia, một nhà máy xi măng chỉ có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong bán kính tiêu thụ khoảng 300 km. Nhưng tại các thị trường gần như Lào, Campuchia, nhu cầu tiêu thu xi măng không đáng kể. Nếu có nhu cầu, họ cũng sẽ mua xi măng nhập khẩu của Thái Lan và Trung Quốc với giá rẻ hơn xi măng VIệt Nam. Còn các thị trường lớn như Châu Âu và Mỹ từ lâu đã là đất cứ địa truyền thống của Thái Lan, nên xi măng Việt Nam rất khó chen chân vào. Nếu muốn xuất khẩu, Việt Nam chỉ còn cách chọn các thị trường xa hơn như Châu Phi, Brazil… Tuy nhiên, để xuất khẩu được sang các khu vực này, chi phí vận chuyển sẽ rất tốn kém và khả năng thu lỗ của các doanh nghiệp là không tránh khỏi.
Giám đốc các công ty làm xi măng như Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Bút Sơn… đều khẳng định: xi măng xuất khẩu đi không mang lại hiệu quả bởi đây là ngành sản xuất tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu của quốc gia như đá, than, dầu, điện… Mặt hàng này nếu không bảo quản tốt, chỉ một thời gian ngắn, sản phẩm sẽ bị đông rắn, biến chất. Đó là chưa kể, giá thành sản xuất đang bị đội lên cao do giá điện, than… không ngừng tăng. Nếu xuất khẩu, chi phí vận chuyển lớn, sẽ không chiụ được cầm chắc lỗ chứ không thể có lãi.
Áp lực dư thừa xi măng đang dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp làm xi măng. Do nguồn cung dư thừa, lượng hàng tồn kho ngày một lớn nên một số doanh nghiệp đã hạ giá bán thấp hơn giá thị trường. Họ chấp nhận hòa hoặc lỗ để thu hồi vốn, trả nợ ngân hàng. Thế mới hay, làm xi măng đâu phải dễ hốt bạc mà sao quá nhiều dây chuyền lớn nhỏ cứ tới tấp mọc lên, để rồi sản phẩm làm ra giằng kéo chân nhau. Cũng bởi vậy giá xi măng bán ra của một số đơn vị thấp hơn mặt bằng giá trên thị trường, khiến người tiêu dùng nghi ngại về chất lượng.
Giải quyết bài toán cung cầu đang trở thành mối lo đối với đa số các doanh nghiệp làm xi măng trong thời điểm hiện tại. Nếu không có sự can thiệp kịp thời từ các cấp quản lý thì vấn đề này sẽ vẫn là trăn trở các ngành xi măng Việt Nam.
Theo đại diện Hiệp hội Xi măng Việt Nam, từ cuối năm 2010 trở đi, xi măng trong nước bắt đầu dư thừa khoảng 3 triệu tấn và sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo.
Hiện nay đang bước vào mùa mưa, nhiều công trình ngưng thi công nên nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng giảm từ 20%-30% so với trước đó. Tuy thế, giá vật liệu một số mặt hàng như thép, xi măng lại tăng. Hiện giá thép thị trường đang ở mức từ 14,4-14,8 triệu đồng/tấn (tăng hơn 1,5 triệu đồng so với đầu tháng 7).
Bộ Xây dựng cho biết, tháng 8, sản lượng xi măng tiêu thụ tăng khá so với tháng 7, ước sản lượng xi măng tiêu thụ tháng 8 đạt 4,51 triệu tấn, 8 tháng năm 2010 tiêu thụ đạt khoảng 32,5 triệu tấn, bằng 65% so với kế hoạch năm 2010.
Hiệp hội các nhà sản xuất xi măng Pakistan (APCMA) cho biết, lũ lụt nghiêm trọng tại nước này đã khiến tiêu thụ xi măng giảm mạnh ở thị trường nội địa và xuất khẩu cũng rất trì trệ trong tháng 7.
Tổng Công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) cho biết, sản lượng tiêu thụ xi măng đang thấp hơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 2,4% so ảnh hưởng của thời tiết, mưa bão xảy ra tại miền Bắc và miền Trung.
Trước thực trạng phát triển quá nóng các dự án xi măng và thời điểm cung xi măng vượt cầu đã cận kề, Bộ Xây dựng đang tiến hành lập lại Quy hoạch Phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025.
Muốn giảm nhập siêu, tạo công ăn việc làm trong nước và giúp cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam phát triển thì Nhà nước, chủ đầu tư và kể cả nhà sản xuất Việt Nam phải có cùng chí hướng và cùng chung tay hành động.
"Cung" vượt quá "cầu" nhưng các nhà máy vẫn ồ ạt mọc lên. Quy hoạch không theo quy hoạch đang đặt ra nhiều vấn đề lớn với ngành. Nguy cơ "vỡ" thị trường xi măng khi sản phẩm tắc "đầu ra" cũng là cảnh báo với nhiều ngành khác, chẳng hạn ngành thép…
Trong khi các ngành chức năng dự báo sản lượng xi măng năm nay cung sẽ vượt cầu và các doanh nghiệp sản xuất đang phải chạy đôn chạy đáo tìm hướng xuất khẩu lượng hàng tồn kho, trên thị trường TPHCM, giá lại bị đẩy lên khá cao. Tùy theo thương hiệu, mỗi bao xi măng khi đến tay người tiêu dùng bị “thổi” lên từ 5.000 - 7.000 đồng.
Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương vừa đề nghị 3 Công ty xi măng Nghi Sơn, Xi măng ChinFon Hải Phòng và Xi măng Phúc Sơn tìm kiếm thị trường để xuất khẩu xi măng.
Với tình hình cung đã vượt cầu và thực tế tiếp tục đầu tư các nhà máy như hiện nay, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng, thị trường xi măng sẽ còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp.
Nhìn vào biểu đồ sản lượng xi-măng của cả nước trong sáu tháng đầu năm nay cho thấy, nguồn cung đang tăng cao và dư thừa xi-măng trên thị trường đã thấy rõ. Một trong những nguyên nhân là do công tác quy hoạch thiếu tính bền vững, nhiều nhà máy mới được xây dựng, làm cho nguồn cung vượt cầu. Ðiều này ảnh hưởng lớn đến sản lượng sản xuất, tiêu thụ của các nhà máy, nhất là tác động đến môi trường cạnh tranh thiếu tính lành mạnh, bán phá giá... và tất yếu sẽ gây bất ổn về giá và quy hoạch của ngành xi-măng.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.