Chị Phan Thị Thùy Mai giới thiệu với khách hàng những đặc tính của sản phẩm gốm do cơ sở Đông Gia sản xuất. Ảnh: Uyên Viễn.
Cơ sở sản xuất đồ gốm Đông Gia chính thức “trình làng” thị trường gốm sứ trong nước cuối năm 2010. Từ đó đến nay, mặc dù sức tiêu thụ trên thị trường có phần suy giảm, Đông Gia vẫn tự tin với kế hoạch kinh doanh của mình.
Thuận vợ thuận chồng…
Đang ở Pháp, bốn năm trước vợ chồng chị Phan Thị Thùy Mai và anh Francois Jarlov, một nghệ nhân có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất đồ gốm, đã trở về Việt Nam để sản xuất đồ gốm thương hiệu Đông Gia.
Những năm ở Pháp, cả hai đã dành nhiều thời gian đi du lịch và nghiên cứu các dòng gốm tiêu biểu của Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Thái Lan. Trông người lại ngẫm đến ta, chị Mai cho rằng đồ gốm Việt Nam tuy đã xuất hiện nhiều trên thị trường nhưng chưa có thương hiệu, chưa tạo ra những sản phẩm thủ công mang giá trị cao. Đó là khoảng trống của thị trường cần phải chen vào.
Giá trị gốm cổ Việt Nam cả thế giới đều biết, thế nhưng bí quyết để làm ra chúng đã bị thất truyền. Trong khi đó ở Trung Quốc, Nhật Bản hiện nay vẫn duy trì những khóa dạy nghề sản xuất gốm thủ công thu hút giới trẻ theo học và sống được với nghề. Đó là lý do tại sao đồ gốm thủ công do hai quốc gia này sản xuất được cả thế giới thừa nhận và tôn vinh.
Ở Việt Nam, đồ gốm sứ hiện có nhiều loại, trải dài từ Nam chí Bắc. Tuy nhiên giá trị thương mại của chúng không lớn, do chưa tiếp cận được thị hiếu người tiêu dùng, hàng sản xuất đại trà, mẫu mã không đẹp, chất lượng kém. Chị Mai cho biết: “Thị trường Mỹ, châu Âu, Singapore… đánh giá đồ gốm, đồ sành tráng men cao gấp năm lần đồ sứ vì dòng sản phẩm này cho ra những mảng màu tự nhiên, đẹp. Trong khi Việt Nam rất giàu kinh nghiệm chế tác những sản phẩm này lại bỏ ngỏ thị trường”.
Vợ chồng anh đã phải lặn lội tìm tòi, học hỏi khắp nơi kinh nghiệm sản xuất dòng sản phẩm gốm truyền thống của Việt Nam. Những làng nghề gốm sứ truyền thống khắp ba miền, những bảo tàng trưng bày hiện vật gốm sứ cổ đều được cản hai tìm đến để được thấy tận mắt, sờ tận tay. Sau hai năm khảo sát thực tế, anh chị đã tìm được vùng nguyên liệu để sản xuất gốm ở Phú Quốc, Bình Dương, Gò Công…“Đất làm ra đồ gốm, đồ sành chính là tiền, là tài nguyên vậy mà chúng đang bị khai thác bừa bãi hoặc bỏ hoang phí”, chị Mai nói.
Nâng giá trị đồ gốm Hai năm kế tiếp, vợ chồng chị Mai đã hợp tác với người dân xã Giang Cao, huyện Gia Lâm (Hà Nội) để thực tập tay nghề với dòng men cổ gốm Việt Nam. Anh Jarlov thực hiện việc chế tác, pha men, làm đồ xoay tay… để sản xuất gốm. Trong khi đó chị Mai phụ trách công việc đối ngoại, thăm dò xu hướng tiêu dùng đồ gốm ở thị trường trong lẫn ngoài nước.
Trong quá trình khảo sát thị trường, chị Mai nhận thấy nhược điểm của hầu hết cơ sở và doanh nghiệp sản xuất đồ gốm là sản phẩm công nghiệp đại trà bán với giá rất rẻ, nguồn tài nguyên đang dần bị cạn kiệt nhưng nguồn lợi thu về chẳng đáng bao nhiêu.
“Bộ đồ trà (ấm, chén) Việt Nam khi xuất xưởng giá bán chẳng được bao nhiêu nhưng khi đến tay nhà kinh doanh bán ra thị trường giá trị của chúng đã tăng lên gấp mười, hai mươi lần. Đông Gia không chấp nhận điều đó vì quy trình sản xuất đồ gốm rất khó, công lao động, giá nguyên vật liệu, chất đốt năm nào cũng tăng nên không thể chọn phân khúc giá rẻ”, chị Mai cho biết.
Bên cạnh tô, chén, dĩa phục vụ khách hàng có thu nhập trung bình khá, bình và chén uống trà là dòng sản phẩm chủ lực của cơ sở Đông Gia. Những sản phẩm này được nung ở nhiệt độ từ 1.280-1.300 độ C. Đây là sự khác biệt giữa sản phẩm gốm Đông Gia với các sản phẩm gốm khác chỉ nung ở nhiệt độ dưới 1.200 độ C. “Giá của chén uống trà do nghệ nhân chế tác xoay tay thủ công hoàn toàn là 500.000 đồng/cái. Chúng tôi xem cái chén trà ấy giống như một tác phẩm nghệ thuật, không có cái nào giống cái nào”, chị Mai nói.
Ngoài lò gốm ở xã Giang Cao, huyện Gia Lâm, cơ sở Đông Gia còn thành lập thêm lò gốm ở xã Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây (Tiền Giang) - quê chị Mai, vì nơi đây có nguồn nguyên liệu đất làm gốm một thời nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ. Cũng theo chị Mai, vì Đông Gia sản xuất thủ công, nên cái gì có thể làm được cho khách thì cam kết chứ không phải nói lấy được. “Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo quy mô nhỏ và vừa khi nhận được đơn đặt hàng lớn vượt khả năng đa phần là nhận bừa, rồi sản xuất chắp vá hoặc đặt nơi khác gia công. Đối với Đông Gia, nếu sản phẩm bị lỗi sẽ không bao giờ giao cho khách và chỉ nhận đơn hàng theo đúng năng lực của mình”.
Cuối năm 2010, sản phẩm gốm Đông Gia chính thức ra mắt thị trường nội địa sau một năm thâm nhập thị trường Pháp, Đức, Nhật Bản và Singapore. Chị Mai cho rằng mặc dù thị trường nội địa đang rơi vào chu kỳ sức mua thấp do tình hình lạm phát, giá cả biến động, tuy nhiên Đông Gia vẫn tự tin vào cách làm thương hiệu và tạo ra giá trị cho sản phẩm. Tính đến tháng 6-2011, doanh số của cơ sở Đông Gia đạt trung bình khoảng 25.000 đô la Mỹ/tháng, trong đó 50% từ xuất khẩu.
“Người sản xuất biết trân trọng sản phẩm thì không có lý gì người tiêu dùng không nhận ra giá trị nghệ thuật biểu lộ từ đó. Gốm Việt Nam sở dĩ từng được cả thế giới thừa nhận vì sự tài hoa của cha ông ta và kỹ thuật chế tác rất khác biệt so với trường phái Trung Quốc và Nhật Bản. Ngày nay Đông Gia chỉ làm nhiệm vụ kết hợp giữa nhiều trường phái gốm truyền thống để viết trang sách mới vốn đã để trống suốt thời gian qua”, chị Mai nói.
Duyên nợ với Việt Nam
Ở Việt Nam, trong giới mỹ thuật, điêu khắc cả hai miền Nam, Bắc đều biết đến tài nghệ của Francois Jarlov bởi anh nắm được bí quyết làm đồ gốm cổ Raku (Nhật Bản) - một nghệ thuật sản xuất dựa trên tinh thần thiền học.
Năm 1998, anh được Chính phủ Pháp mời sang Việt Nam hướng dẫn kỹ thuật chế tác gốm Raku cho các giảng viên khoa Điêu khắc trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Trong thời gian lưu lại Việt Nam, anh Jarlov đã đi du lịch khắp ba miền, tìm hiểu về lịch sử, văn hóa.
Cảm xúc từ những chuyến đi đã được anh thể hiện bằng nét cọ, ký họa, thủ bút trong tác phẩm Dưới bóng rồng xanh, xuất bản năm 2004, được trưng bày tại Viện Trao đổi văn hóa với Pháp (Idecaf), TPHCM. Hỗ trợ cho “nghệ nhân người Pháp” thực hiện cuốn sách là chị Phan Thị Thùy Mai, chủ cơ sở thiết kế sách Đông Gia. Một năm sau, hai người đã nên duyên đối lứa.
“Khó khăn hơn cả thời kỳ khủng hoảng năm 2008-2009”, đó là nhận định của các doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ khi đề cập tình hình sản xuất, kinh doanh mặt hàng này trong năm 2011.
Từ sản phẩm thiên nhiên của quê hương thành sản phẩm phẩm kinh doanh, Bình Định Stone là một trong những doanh nghiệp tiên phong mang lại vẻ đẹp cho đá granite.
Ở nước ta, ngành mây, tre gắn liền với cuộc sống của người dân nhiều vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó hơn một triệu người sống ở các gia đình có thu nhập từ mây, tre. Tuy nhiên, việc trồng, khai thác, chế biến sản phẩm từ mây, tre ở nước ta vẫn chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có do thiếu vùng nguyên liệu, khai thác quá mức đến cạn kiệt.
Phát triển nhanh ngành thủ công mỹ nghệ (TCMN) là một trong những mục tiêu của Chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn và tăng cường khả năng xuất khẩu.
Tại hội thảo phát triển ngành mây tre do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 22-11, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, hiện cả nước có khoảng 1,4 triệu ha rừng tre, chiếm khoảng 10,5% diện tích rừng toàn quốc, gồm 6.250 triệu cây tre tự nhiên và trồng.
Năm 2010, dự kiến kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sẽ đạt mức 1,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 170% so với năm 2009. Hiện các mặt thủ công mỹ nghệ của nước ta có mặt tại 163 nước, vùng lãnh thổ và trở thành nước xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đứng thứ 3 thế giới, sau Trung Quốc và Indonesia.
Trong nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ luôn đứng đầu. Trong 6 tháng đầu năm 2010 xuất khẩu mặt hàng gốm sứ đạt trên 151,3 triệu USD, chiếm 4,3% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Ngành sản xuất gốm đỏ xuất khẩu tỉnh Vĩnh Long đang vào thời vụ sản xuất cao điểm năm 2010. Sản lượng đến giữa tháng 9 đạt trên 10,4 triệu sản phẩm các loại và dự kiến năm 2010 hoàn thành kế hoạch sản xuất 21 triệu sản phẩm gốm đỏ các loại.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.