Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia, doanh nghiệp nhận xét thì mọi thứ vẫn cứ lộn xộn, lẫn lộn, thiếu tính thống nhất, được cái này mất cái kia và chung quy lại là chẳng được gì cả. Tại sao ?
Những cuộc hội thảo, họp bàn, những quyết định, chính sách liên quan đến thị trường ôtô, đến ngành công nghiệp ôtô vẫn liên tục được đưa ra.
Chính sách và thời điểm
Dư luận gần đây xôn xao về những quyết định liên quan đến nhập khẩu ôtô nguyên chiếc cả mới lẫn cũ. Xe mới thì thêm những quy định “ngặt nghèo” mà đáng ra là phải đưa ra từ lâu lắm rồi, từ khi cho phép nhập khẩu xe nguyên chiếc với mức thuế theo lộ trình WTO, chứ không phải bây giờ mới làm. Xe cũ thì tiếp tục tăng mức thuế tuyệt đối với nhiều dòng, chủng loại (phụ thuộc vào dung tích xilanh).
Cứ nghĩ rằng vào thời điểm này cần phải đưa ra những quyết định như vậy. Điều đó đúng, nhưng kết quả của nó sẽ như thế nào còn chưa biết. Khi chưa biết được thì có thể dự đoán và nhiều chuyên gia dự đoán, khẳng định rằng rồi cũng “chả đâu đến đâu”. Dự đoán và khẳng định của họ dựa trên hai yếu tố là ngành công nghiệp ôtô cũng vẫn khó phát triển như mong muốn trong khi các doanh nghiệp dù có “kêu gào” như thế nào thì họ vẫn bán được xe, vẫn tìm cách xoay xở được, lượng xe lắp ráp trong nước cũng như xe nhập khẩu vẫn bán tốt và giả sử như có giảm thì chỉ trong một thời gian ngắn mang tính chờ đợi và nghe ngóng, sau đó lại tiếp tục tăng. Mà cái tăng của thị trường ôtô bao nhiêu năm nay vẫn thế, là giá và sản lượng bán hàng vẫn tăng đều. đã có thời điểm chúng ta giảm thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc, rồi lại tăng, giảm và xét lại thì dù tăng hay giảm thì sản lượng bán hàng của xe nhập khẩu vẫn tăng. Nói về vấn đề này, giám đốc một doanh nghiệp ôtô cho biết “Liên quan đến việc gia tăng các biện pháp siết chặt, tăng thuế, lệ phí... sẽ làm cho giá xe tăng, nhưng trên thực tế là tăng thế chứ tăng nữa thì lượng bán xe cũng không giảm nhiều, khách hàng vẫn cứ mua”. Nói như vậy để biết rằng như cầu của người dân trong việc sử dụng xe con là rất lớn. Đó là chưa tính đến việc lượng xe sang, xe cao cấp vẫn ào ào về VN, cho dù là đắt hay rẻ, có khi càng đắt lại càng mua. Vậy thì bài toán nằm ở chỗ là làm thế nào để đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất chứ không phải là hạn chế nó và sự đáp ứng đó phải gắn với sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô VN, mà cụ thể là sự tham gia của các doanh nghiệp vào chuỗi liên kết giá trị, sản xuất toàn cầu.
Như chúng tôi đã từng đề cập đến việc nếu thời điểm ngay từ đầu cho phép nhập khẩu xe nguyên chiếc, chúng ta đưa ra những quy định chặt chẽ hơn thì tình hình bây giờ sẽ khác. sẽ không có quá nhiều DN nhập khẩu ôtô như hiện nay, trong khi tính chuyên nghiệp cao hơn nhiều và nếu vậy thì cả Nhà nước và người tiêu dùng đều được lợi, tính hiệu quả sẽ cao hơn...
Tìm liên kết
Nhu cầu sử dụng ôtô được dự báo là tiếp tục tăng trưởng mạnh và đó chính là lợi thế cho sự phát triển ngành công nghiệp này. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, một trong những vấn đề được xem là quan trọng đối với ngành công nghiệp là thiếu tính liên kết. Tính liên kết ở đây được hiểu theo hai góc độ: Liên kết giữa các DN trong nước và liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, giữa doanh nghiệp trong nước và các hãng ôtô trên thế giới.
Trên thực tế thì các hãng ôtô lớn trên thế giới đều đã có mặt tại VN dưới hình thức liên doanh với các đối tác trong nước hoặc đầu tư 100 vốn nước ngoài. Điều này hoàn toàn phù hợp vì ngành công nghiệp này thì việc liên kết với các hãng ôtô là điều bắt buộc. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ sự liên kết của các liên doanh hiện nay, bao nhiêu năm nay vẫn chỉ dừng lại ở mức độ lắp ráp đơn giản và phân phối, bán hàng. Bản thân các liên doanh gần như không sản xuất linh kiện, phụ tùng, trong khi các đơn vị sản xuất linh kiện, phụ tùng khác cho dù có năng lực lại không thể tham gia được vào chuỗi liên kết trong các hệ thống của chính các hãng. Đó cũng chính là nguyên nhân chính lý giải tại sao ngành công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực ôtô của VN lại yếu kém, chứ không phải là chúng ta không muốn phát triển, các doanh nghiệp trong nước không đủ năng lực. Một chuyên gia khẳng định nếu các hãng ôtô lớn trên thế giới muốn phát triển các nhà sản xuất và cung ứng phụ tùng linh kiện ở VN thì họ làm được ngay. nhưng họ không muốn làm, nhất là sản xuất và cung ứng ngay trong các liên doanh của mình tại VN. vì nguyên nhân chính là tính hiệu quả không cao do họ đã đầu tư lớn tại các nước xung quanh như Trung Quốc, Thái lan, Philippines, Indonesia... Nhưng có một nghịch lý là hiện cũng có nhiều DN con của các hãng ôtô đầu tư vào VN sản xuất linh kiện, phụ tùng đơn giản như hệ thống dây điện, ghế, keo dán... và chỉ có điều là toàn bộ những sản phẩm này đều được xuất khẩu sang thị trường các nước (doanh số XK khoảng trên 1 tỉ USD/năm).
Đó là các liên doanh, còn các DN của VN mới đầu tư gần đây thì mối liên kết lại càng thấp do thiếu đối tác lớn, trong khi ưu đãi đối với các doanh nghiệp này lại gần như không có gì ?
Làm gì thì làm, nhưng vấn đề quy hoạch, chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô của VN thời gian tới phải giúp DN chen chân được vào chuỗi liên kết công nghiệp ôtô toàn cầu và toàn khu vực, nhất là khi thời điểm thuế nhập khẩu trong Asean sẽ được dỡ bỏ vào năm 2018. Và nếu không có những chính sách phù hợp cho sự phát triển của ngành công nghiệp này, nhất là vấn đề sản xuất thì chí ít cũng phải tính đến một chiến lược nhập khẩu và phân phối ôtô phù hợp.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang thì VN thuộc nhóm nước có triển vọng tiêu thụ ôtô. Trong bối cảnh các hãng ôtô có thương hiệu xuyên quốc gia hầu như chi phối tất cả các phân khúc sản xuất xe bằng việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới nhất thì liệu VN có xây dựng được ngành công nghiệp ô tô đủ năng lực cạnh tranh và phát triển để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần giảm nhập siêu trong tương lai?
Trung tâm cơ khí ôtô quốc gia được coi là một trong hai điểm “cốt yếu” của dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong giai đoạn tới. Thế nhưng, vẫn còn nhiều câu hỏi không dễ trả lời xung quanh vấn đề này.
Công nghiệp ôtô Việt Nam được xem như chưa có gì, ôtô thương hiệu Việt vẫn còn là ẩn số. Các chuyên gia kỹ thuật cho rằng nghiên cứu chế tạo ra chiếc ôtô mang thương hiệu Việt không phải là không thể.
Chiến lược phát triển không rõ ràng; thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc tiếp tục giảm nhanh; nhiều loại phí mới dự kiến sẽ được đưa ra... Tất cả đang đẩy ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước vào bước đường cùng.
Sau vài tuần thị trường tha hồ đồn đoán, hãng Volkswagen đã chính thức tuyên bố thâu tóm hãng sản xuất xe motor cao cấp Ducati với giá 1,12 tỷ USD thông qua thương hiệu Audi.
Để phát triển công nghiệp ô tô không thể dùng chiến lược bảo hộ lắp ráp mà phải tận dụng cơ hội từ Đông Á, ưu tiên phát triển hoạt động sản xuất phụ tùng. Khi công nghiệp phụ tùng đủ sức cạnh tranh lúc đó mới chuyển mục tiêu sang tập trung nuôi dưỡng ngành công nghiệp ô tô.
Sau 20 năm tập trung ưu tiên phát triển với những tham vọng rất lớn nhưng kết quả ngành công nghiệp ô tô Việt Nam mới chỉ ở mức lắp ráp. Trong khi đó, năm 2018, thời điểm thuế suất nhập khẩu ô tô bằng 0% theo cam kết của tiến trình tự do hóa thương mại ASEAN/AFTA đã cận kề. Giấc mơ về ô tô “made in Vietnam” đang ngày càng xa vời. Vì sao?
Với khả năng tiêu thụ nhiên liệu chỉ còn ở mức 2,4 lít/100km và một mức giá phù hợp chỉ từ 66,7 triệu đồng cho phiên bản Vespa LX i.e 125cc, Piaggio Việt Nam đã và đang dần hiểu ý người tiêu dùng.
Tuy nhiên, nếu đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể của lĩnh vực ôtô, có thể thấy rõ hơn bản chất của hiện trạng cụ thể, để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn doanh nghiệp, hiểu rõ hơn để đưa ra được những quy hoạch phù hợp – nói như một chuyên gia nghiên cứu sâu, kỹ về lĩnh vực này trong hơn 20 năm qua thì cái gì ta yếu thì DN càng có lợi.
Nóng lòng có được nền công nghiệp ô tô Việt Nam từ con số 0, các nhà làm chính sách đã đưa ra ưu đãi tuyệt đối trong giai đoạn đầu. Nhưng chính việc đặt mục tiêu quá cao, ưu đãi kiểu “nắm đằng lưỡi” đã khiến giấc mơ xe hơi Việt tan thành mây khói.
Như chúng tôi đã đề cập trong Kỳ I, bài CN ôtô tìm con đường mới, nhấn mạnh đến sự thất vọng của người tiêu dùng, sự khó khăn của các DN ôtô, sự chật vật, thất vọng của ngành công nghiệp ôtô, sự cần thiết, bức bách trong việc tìm kiếm một con đường mới.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.