Phân loại hạt điều xuất khẩu tại công ty CPxuất nhập khẩu Ninh Bình (Ninh Bình).
Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, điều là cây trồng để xóa đói, giảm nghèo, để phủ xanh đất trống, đồi trọc. Từ loại "cây bình dân" đến năm 2005, hạt điều xuất khẩu đạt hơn 500 triệu USD, tạo việc làm cho 500 nghìn lao động và năm 2010, dự kiến khoảng một tỷ USD. Hiện nay ngành chế biến hạt điều đang khó khăn, do chưa chú trọng phát triển vùng nguyên liệu và sẽ khó khăn hơn nếu không có giải pháp căn cơ, lâu dài.
Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều chế biến. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, năm 2006 đạt 504 triệu USD, năm 2007 đạt 651 triệu USD; đến năm 2009, đạt 850 triệu USD. Năm nay ngành điều đề ra mục tiêu xuất khẩu đạt một tỷ USD.
Xuất khẩu tăng, kéo theo số doanh nghiệp chế biến hạt điều tăng. Từ lúc có vài doanh nghiệp như: Donafoods Ðồng Nai, Lafooco Long An, Tanimex TP Hồ Chí Minh, v.v. đến nay cả nước có 225 doanh nghiệp, với tổng công suất chế biến khoảng 700 nghìn tấn hạt điều nguyên liệu/năm. Trong đó chỉ có 20 doanh nghiệp lớn và bảy doanh nghiệp có nhà máy sản xuất chế biến đạt tiêu chuẩn.
Ðáng báo động là, năng lực chế biến của các doanh nghiệp thì lớn, nhưng tổng sản lượng điều thô cả nước chỉ đáp ứng một phần hai nhu cầu (khoảng 350/700 nghìn tấn). Vì vậy, các doanh nghiệp chế biến điều hiện nay đang ở thời kỳ "đói" nguyên liệu và lệ thuộc vào nguồn hạt điều thô nhập khẩu từ các quốc gia khác như: Bờ Biển Ngà, Kê-ni-a, Cam-pu-chia...
Theo báo cáo của Hiệp hội Ðiều Việt Nam, đến nay các doanh nghiệp chế biến hạt điều đã nhập khẩu 117 nghìn tấn điều nguyên liệu. Từ nay đến cuối năm nhập thêm 100 nghìn tấn, nhưng so với năng lực của các doanh nghiệp chế biến hiện nay thì ngành điều vẫn thiếu 140 nghìn tấn nguyên liệu. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang cố gắng tìm nguồn điều thô để giữ chân công nhân, nhưng năm nay sản lượng điều thế giới giảm 20%, giá tăng và các nước sản xuất điều thô năm nay cũng chuyển sang chế biến. Hơn nữa vào thời điểm thu mua, các doanh nghiệp không vay được ngoại tệ từ ngân hàng, cho nên nguồn nguyên liệu càng thêm khan hiếm.
Sở dĩ có tình trạng mất cân đối giữa nguồn nguyên liệu và năng lực chế biến là do các doanh nghiệp chế biến phát triển quá nhanh, trong khi việc quy hoạch diện tích trồng và năng suất cây điều tại nước ta những năm gần đây lại giảm mạnh.
Thời điểm vàng son, diện tích điều cả nước đạt gần 450 nghìn ha (2006). Sau 5 năm, diện tích điều giảm mạnh, riêng năm 2009, giảm hơn 50 nghìn ha, đến nay còn khoảng 390 nghìn ha. Theo thống kê của ngành điều, diện tích điều tại nước ta ở mức 350 nghìn ha. Ðáng lo ngại là, bà con nông dân hầu như không tái canh vườn điều khi đã chặt bỏ, thay vào đó họ trồng cây có giá trị kinh tế cao hơn cây điều như: cao-su, tiêu và cà-phê.
Ngoài việc diện tích điều bị thu hẹp, năng suất từ cây điều những năm qua cũng không được cải thiện. Thời điểm cao nhất là năm 2005 - 2006, cây điều đạt năng suất hơn một tấn/ha, nhưng hiện nay chỉ còn 0,86 tấn/ha. Kỹ sư Phạm Văn Nguyên, chuyên gia nghiên cứu cây điều, thuộc Hiệp hội Ðiều Việt Nam cho biết, năng suất chững lại và thấp do cây điều già, thoái hóa.
Lường trước khả năng mất cân đối cung - cầu giữa trồng trọt và chế biến trong ngành điều, năm 2007, Chính phủ có Văn bản số 1661, sau đó là quyết định số 39 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án phát triển cây điều đến năm 2010 hướng đến năm 2020, gồm: Diện tích trồng điều cả nước là 450 nghìn ha điều ở các tỉnh Tây Nguyên, miền trung và Ðông Nam Bộ, trong đó sử dụng 90% là giống cao sản; thực hiện các giải pháp về vốn khuyến nông, đầu tư thâm canh; nâng năng suất đạt 1,4 tấn/ha vào năm 2010 và vùng cao sản đạt hai tấn/ha vào năm 2020; tổng sản lượng điều thô đạt 500 nghìn tấn; giữ nguyên công suất chế biến như hiện nay; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao về giống cây điều cho nông dân các vùng chuyên canh điều...
Tuy nhiên, đến nay, có lẽ đề án chỉ thành công tại huyện Xuân Lộc, Ðồng Nai, còn nhiều địa phương vẫn chưa quy hoạch đất trồng điều, kinh phí khuyến nông dành cho cây điều thấp, chỉ bằng 1/10, so với cây cà-phê, cây tiêu. Theo Phó Chủ tịch huyện Xuân Lộc Trần Anh Tuấn, toàn bộ 15 nghìn ha điều đã sử dụng 100% giống mới và áp dụng khoa học - kỹ thuật vào các khâu như: Nước tưới, chăm sóc, trừ sâu, bệnh theo hệ thống, cho nên những năm qua vườn điều chuyên canh tại đây đạt hơn hai tấn/ha, gấp đôi bình quân cả nước.
Công tác đầu tư nghiên cứu giống cây điều cũng chưa được các cấp quan tâm đúng mức. Ðến nay, ngoài Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp miền nam, Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp Duyên hải Trung Bộ, Viện Khoa học Nông - Lâm Tây Nguyên, Công ty Donafoods chọn, kiểm tra đúng quy trình kỹ thuật, chất lượng giống điều có thể tin tưởng, nhưng số lượng hạn chế, số doanh nghiệp chế biến hạt điều còn lại chỉ dừng ở thu mua, chế biến, xuất khẩu và thu lợi nhuận, chưa chú ý tái đầu tư vùng nguyên liệu. Do đó, nguồn hạt điều thô trong nước ngày càng thiếu.
Trước tình trạng mất cân đối về nguồn nguyên liệu và năng lực chế biến hạt điều nghiêm trọng, vừa qua Hiệp hội Ðiều Việt Nam thành lập câu lạc bộ gồm 20 doanh nghiệp lớn nhằm chia sẻ thông tin trong lĩnh vực xuất nhập khẩu điều, tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tận dụng cơ hội tốt hơn. Nhưng về lâu dài, theo Chủ tịch Hiệp hội Ðiều Việt Nam Nguyễn Thái Học, các doanh nghiệp cần có kế hoạch khẩn trương đầu tư sang các nước có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cây điều ở nước ta để ổn định nguồn nguyên liệu. Ði đầu trong lĩnh vực này là Công ty Chế biến xuất nhập khẩu nông sản Ðồng Nai. Từ năm 2006, công ty đã hỗ trợ hàng chục nghìn cây giống, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây điều, với tổng trị giá 500 triệu đồng cho nông dân hai tỉnh Công-pông Chàm và Công-pông Thom (Cam-pu-chia) phát triển vùng điều chuyên canh. Ðến nay, diện tích tại các vùng này đã tăng hơn 100 nghìn ha và bắt đầu cho thu hoạch. Năm 2009, công ty đã nhập về hơn 60 nghìn tấn điều thô, giải quyết một phần tình trạng đói nguyên liệu của doanh nghiệp.
Qua thực tế ngành điều Việt Nam hiện nay cho thấy, việc phát triển "quá nóng" các doanh nghiệp chế biến, trong khi các địa phương chưa chủ động quy hoạch diện tích điều, chưa chú trọng phát triển giống mới, năng suất cao là nguyên nhân cơ bản làm mất cân đối giữa nguồn nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến. Mặt khác, việc "ăn xổi" của các doanh nghiệp, chỉ biết chế biến mà không đầu tư trồng trọt làm nguyên liệu càng thiếu hơn.
Ngay cả việc nghiên cứu, chuyển giao giống mới, năng suất cho nông dân cũng còn bất cập. Hiện nay không có kinh phí để nghiên cứu cây điều dài hơi mà chỉ có các nghiên cứu lẻ tẻ, cho nên chưa lai tạo được giống điều có năng suất, chất lượng. Chính sách khuyến nông cho cây điều chưa được Nhà nước, các địa phương quan tâm đúng mức, nông dân ít được hướng dẫn kỹ thuật trồng. Cơ hội vay vốn ngân hàng thấp và nhất là giá cả thu mua bấp bênh khiến nông dân không mặn mà với việc trồng, phát triển cây điều.
Trước thực tế hiện nay, ngành điều nhiều lần kiến nghị Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng điều như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, cho vay vốn lãi suất ưu đãi để nông dân có khả năng đầu tư cho cây điều. Xét giảm thuế cho các doanh nghiệp chế biến cải tiến công nghệ hoặc đưa cơ sở chế biến về vùng trồng điều tập trung. Hỗ trợ lãi suất vốn vay khi các doanh nghiệp chế biến nhập khẩu, đầu tư phát triển vùng nguyên liệu điều. Ðẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của sản phẩm điều Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước. Ðầu tư lâu dài cho các chương trình nghiên cứu về cây điều, tăng cường công tác khuyến nông phát triển cây điều tại các địa phương có diện tích thâm canh lớn.
(Bài và ảnh : Lê Thẩm và Lâm Huệ Nữ // Nhandan Online)
Trong tám tháng qua, giá nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu tăng khá, như giá hạt điều tăng 18,9%, chè tăng 11,2%, hạt tiêu tăng 39,9%, gạo tăng 2,8%...
Biến đổi khí hậu, đất nông nghiệp thu hẹp..., hàng loạt thách thức an ninh lương thực toàn cầu đã đặt ra cho Việt Nam sự lựa chọn bức thiết: Đưa vào sản xuất đại trà thực phẩm chuyển gen (GMF) để nâng cao năng suất.
Thời gian tới, Cục chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) sẽ cùng Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas) hướng dẫn cho hơn 200 cơ sở chế biến điều trên cả nước thực hiện 53 tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm, trước khi cấp giấy chứng nhận quốc gia về an toàn vệ sinh thực phẩm cho những cơ sở này.
Dù đang vào vụ thu hoạch bắp (ngô), nhưng gần một tháng nay, ông Phạm Đức Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình, chuyên sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) ở Đồng Nai, vẫn không mua được 10.000 tấn bắp, số lượng cần dùng để sản xuất TACN trong một tháng của Thanh Bình.
Theo tin từ Hiệp hội điều Việt Nam, trong tuần qua, giao dịch điều thô nội địa tại Việt Nam và Ấn Độ khá sôi động, giá ổn định nhưng khối lượng thành công không nhiều. Hiện nay, ngoại trừ cá nhà máy nhỏ thì các nhà máy lớn đã có đủ nguyên liệu sản xuất đến đầu vụ điều 2011.
Giá điều xuất khẩu cao nhất kể từ đầu năm nhưng nhiều doanh nghiệp không có nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Hàng trăm doanh nghiệp điều đang đứng trước nguy cơ ngồi chơi xơi nước những tháng cuối năm.
“Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới là nhờ bước tiến từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa. Tuy nhiên, nền nông nghiệp VN vẫn chưa thực sự phát huy hết thế mạnh của mình”.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, từ nay đến cuối năm, chỉ có thể nhập được 100.000 tấn điều thô, thiếu khoảng 150.000 tấn điều thô các loại. Với công suất chế biến các nhà máy lên đến 700.000 tấn/năm, nếu không giải quyết được bài toán này, dự báo quý 4-2010 và quý 1-2011 sẽ có trên 200 cơ sở chế biến điều với khoảng 150.000 lao động, có nguy cơ thiếu việc làm. Nhất là khó đạt kế hoạch xuất khẩu 1 tỷ USD nhân điều.
Hơn 13 năm gắn bó với cây điều, lãnh đạo và nông dân Bình Phước đã nếm đủ vị ngọt chát được mùa, mất giá của loại cây này. Nhưng chuyện “thủy chung” với cây điều đã dần phai nhạt với nông dân Bình Phước kể từ năm 2008 vì lý do chuyển đổi diện tích canh tác điều để trồng cây cao su và một số loại cây nông sản khác cho giá trị kinh tế cao hơn.
Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công thương) khuyến cáo các nhà xuất khẩu hạt tiêu nên tích trữ, không lo lắng bán tháo vì giá tiêu đang giảm nhẹ 10%.
Tất cả các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường Algeri là hàng ở trong nước họ không thể tự sản xuất được. Do vậy cơ hội cho hàng nông sản Việt Nam vào thị trường Algeri còn rất lớn.
“Xuất khẩu nông sản 8 tháng đầu năm đạt kết quả tốt, nhất là những tháng giữa năm khi yếu tố thị trường thế giới có lợi cho mặt hàng lương thực - thực phẩm”
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.