Đống gỗ điều dài hơn 100m phơi mình trên đường ĐT741 (đoạn xã Bù Lách - huyện Bù Gia Mập - tỉnh Bình Phước). Ảnh chụp ngày 1/7/2010
Hơn 13 năm gắn bó với cây điều, lãnh đạo và nông dân Bình Phước đã nếm đủ vị ngọt chát được mùa, mất giá của loại cây này. Nhưng chuyện “thủy chung” với cây điều đã dần phai nhạt với nông dân Bình Phước kể từ năm 2008 vì lý do chuyển đổi diện tích canh tác điều để trồng cây cao su và một số loại cây nông sản khác cho giá trị kinh tế cao hơn. Quy hoạch ngành công nghiệp chế biến điều giai đoạn 2010 – 2015, tầm nhìn 2020 của tỉnh Bình Phước vì thế đang gặp phải nhiều khó khăn.
Với diện tích hơn 150 ngàn ha, chiếm 45% diện tích điều cả nước; năng suất cao từ 1,1 – 1,5 tấn/ha và có trên 200 cơ sở chế biến hạt điều, Bình Phước là thủ phủ điều cả nước và ngành điều trở thành ngành nông sản chủ lực của tỉnh. Việc gắn bó với cây điều đã giúp không ít hộ nông dân xóa được đói, giảm được nghèo và vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, một vài năm gần đây, dù giá điều có tăng đáng kể nhưng so với giá trị kinh tế của 1 ha cao su thì 1ha điều vẫn thua từ 1,5 - 2 lần.
Đoạn tuyệt với cây điều
Anh Đỗ Văn Trường - một người dân trồng điều có thâm niên ở xã Long Hưng, huyện Bù Gia Mập cho biết: “Mặc dù giá điều năm nay duy trì mức ổn định 14 - 18 ngàn đồng/1 kg, tức cao hơn những năm trước từ 5 - 6 ngàn đồng nhưng năng suất điều lại giảm mạnh, không còn giữ ở mức 11,06 tạ/1 ha như mọi năm. Nguyên nhân do nắng nóng kéo dài, thời tiết biến đổi thất thường, nhiều sương muối, sâu bọ phát triển... đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, ra hoa và tạo quả của cây điều”. Ở nhiều địa phương Bình Phước, năng suất đã bị giảm hơn một nửa, giá tuy cao nhưng thu nhập đem về vẫn không thể đảm bảo cuộc sống. Cho nên, giải pháp mà người dân lựa chọn là chuyển đổi canh tác sang trồng cây cao su.
Những hộ dân có kinh tế khá ổn định sẵn sàng cưa trắng vài ha điều. Còn những hộ có kinh tế trung bình thì lại lấy ngắn nuôi dài theo phương pháp: Chặt tỉa những cành xung quanh, chỉ để lại tán ngọn và trồng xen cây cao su ở giữa hàng xông với mục đích tận thu vườn điều một vài năm nữa. Sau khi cây cao su trưởng thành (còn khoảng 2 năm cho thu hoạch), người dân sẽ đốn bỏ cây điều. Anh Nguyễn Duy Hiến – một nông dân trồng điều ở xã Tân Phước, huyện Đồng Phú cho biết: “Gia đình anh có 3 ha điều nhưng tháng 6 năm 2009 anh đã trồng xen canh gần 2 ha cao su, chờ khi cao su đến thời kỳ thu hoạch sẽ đốn bỏ hết cây điều và trồng cao su trên 1 ha còn lại”. Với cách thức này, sự sống của cây điều duy trì thêm 2 - 3 năm, nhưng năng suất sẽ giảm đáng kể.
Đến Bình Phước thời điểm này, dễ dàng chứng kiến cảnh điều bị cưa chất thành đống trên các tuyến đường nội tỉnh, đặc biệt trên đường ĐT741 (đoạn Đồng Phú - Phước Long). Như vậy, diện tích hơn 150 ngàn ha điều của Bình Phước đang bị đe dọa nghiêm trọng, nguy cơ cây điều bị chặt bỏ khoảng 20 ngàn ha trong năm 2010 là có căn cứ. Vòng luẩn quẩn e rằng sẽ lặp lại như những năm 1994 – 2000, nông dân Bình Phước đổ xô chặt điều trồng cà phê, hồ tiêu, rồi lại chặt bỏ cà phê trồng điều, cao su. Chạy theo lợi nhuận nhưng không nắm chắc quy luật phát triển của thị trường sẽ chuốc lấy những thiệt thòi cho người dân và ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Nhìn từ các cơ sở chế biến
Khi diện tích giảm, vấn đề tồn tại của hàng trăm cơ sở chế biến hạt điều vừa và nhỏ của Bình Phước đang trên bờ vực. Theo tin từ Hiệp hội điều VN (Vinacas), niên vụ năm 2010, sản lượng điều của cả nước đạt khoảng 300 ngàn tấn, giảm 50 ngàn tấn so với năm 2009. Để đủ hàng xuất khẩu, các DN chế biến hạt điều trong nước sẽ phải nhập thô khoảng 300 ngàn tấn, tăng 50 ngàn tấn so với năm 2009. Và các cơ sở chế biến điều Bình Phước cũng chịu chung bối cảnh nhập khẩu hạt điều thô 40 –50% so với sản lượng trong nước.
Một vài năm gần đây, số lượng Cty, cơ sở chế biến hạt điều của Bình Phước tăng rất nhanh. Nếu như năm 2002, cả tỉnh chỉ có 33 cơ sở chế biến điều, với công suất hơn 25.000 tấn/năm thì đến năm 2009 có trên 200 cơ sở (vừa và nhỏ), công suất tăng gần 6 lần (hơn 133.000 tấn/năm) và thu hút hàng ngàn nhân công lao động. Toàn tỉnh hiện có 6 cơ sở chế biến sản phẩm nhân điều ăn liền, với tổng công suất 4.360 tấn/năm; 2 cơ sở đạt tiêu chuẩn ISO, HACCP. Ngoài các cơ sở chế biến nhân điều thành phẩm, một số DN còn đầu tư chiết xuất dầu điều và cồn từ quả điều, sản xuất gỗ ván ép từ điều, nhằm tăng chuỗi doanh thu.
Thực tế cho thấy, sự xuất hiện ngày càng nhiều các Cty, xí nghiệp, cơ sở chế biến hạt điều đã dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt ngay trong thị trường chế biến và đem về những lợi nhuận thiết thực cho người trồng điều: giá cả khởi sắc, được một số Cty bao tiêu sản phẩm, cho ứng vốn trước để đầu tư vườn trồng, trợ cấp giống và kỹ thuật chăm bón... Hiện nay, đã có nhiều hộ gia đình và các cơ sở chế biến nhỏ lẻ tự gia công bóc tách để bán nhân điều cho các cơ sở, Cty lớn nhằm tăng thêm giá trị thành phẩm so với việc bán điều trực tiếp tại vườn. Việc xuất hiện đại trà các cơ sở chế biến hạt điều còn mang ý nghĩa giải quyết công ăn việc làm cho lao động địa phương, đóng góp đáng kể vào doanh thu ngân sách nhà nước và hoạt động phúc lợi xã hội mà các Cty mang lại cho cộng đồng. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận từ quan điểm đối sánh hai chiều, khi mà có quá nhiều cơ sở chế biến trên cùng một địa bàn, vấn đề bảo vệ môi trường lại phải đặt ra; tình trạng xâu xé, độc quyền của các Cty lớn đối với các cơ sở chế biến nhỏ lẻ là không thể tránh khỏi; khó khăn trong công tác kiểm định vệ sinh, chất lượng sản phẩm nhân điều; việc quản lý số lượng nhân công và những chính sách xã hội cho người lao động (tự phát theo mùa vụ) khó có thể đảm bảo được...
Giải pháp cứu cây điều
Trước tình trạng diện tích, sản lượng điều năm 2010 sụt giảm so với năm 2009 và thực trạng người dân vẫn đốn hạ điều, lãnh đạo tỉnh Bình Phước và các ngành liên quan đã và đang xây dựng chính sách phát triển ngành điều theo hướng chuyên canh ổn định và bền vững. Nhưng liệu chính sách ra đời có đủ hiệu lực “cứu” cây điều và còn đủ kịp để thực hiện hay không ?
Vừa qua, UBND tỉnh Bình Phước phối hợp với Hội điều tỉnh và sở, ngành hữu quan tổ chức họp dự thảo quy định một số chính sách hỗ trợ cơ sở chế biến điều trên địa bàn tỉnh. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc hỗ trợ đầu tư, cải tiến công nghệ, dây chuyền máy móc, thiết bị sản xuất chế biến hạt điều cho các DN. Ngoài ra, còn thảo luận 10 chính sách hỗ trợ khác như: đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu điều, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, tăng giá trị xuất khẩu... Đây là những định hướng chiến lược lâu dài. Tuy nhiên người trồng điều hiện nay đang cần những chính sách hỗ trợ giá, vật tư, phân bón, kỹ thuật, chuyển đổi giống trồng mới cho năng suất cao... để có thể kích thích nhà vườn đầu tư, gắn bó mặn mà hơn với cây điều. Trợ giúp người trồng điều chính là trợ giúp các DN có một hậu phương nguyên liệu vững chắc, không phải thụ động trông chờ vào việc nhập khẩu điều thô từ các nước Châu Phi, Campuchia, Indonesia... Mặt khác, các DN chế biến vẫn còn đủ tiềm năng để cứu chính họ, trong khi người trồng điều đang khốn đốn với bao phen được mùa mất giá.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, từ nay đến cuối năm, chỉ có thể nhập được 100.000 tấn điều thô, thiếu khoảng 150.000 tấn điều thô các loại. Với công suất chế biến các nhà máy lên đến 700.000 tấn/năm, nếu không giải quyết được bài toán này, dự báo quý 4-2010 và quý 1-2011 sẽ có trên 200 cơ sở chế biến điều với khoảng 150.000 lao động, có nguy cơ thiếu việc làm. Nhất là khó đạt kế hoạch xuất khẩu 1 tỷ USD nhân điều.
“Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới là nhờ bước tiến từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa. Tuy nhiên, nền nông nghiệp VN vẫn chưa thực sự phát huy hết thế mạnh của mình”.
Giá điều xuất khẩu cao nhất kể từ đầu năm nhưng nhiều doanh nghiệp không có nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Hàng trăm doanh nghiệp điều đang đứng trước nguy cơ ngồi chơi xơi nước những tháng cuối năm.
Theo tin từ Hiệp hội điều Việt Nam, trong tuần qua, giao dịch điều thô nội địa tại Việt Nam và Ấn Độ khá sôi động, giá ổn định nhưng khối lượng thành công không nhiều. Hiện nay, ngoại trừ cá nhà máy nhỏ thì các nhà máy lớn đã có đủ nguyên liệu sản xuất đến đầu vụ điều 2011.
Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, điều là cây trồng để xóa đói, giảm nghèo, để phủ xanh đất trống, đồi trọc. Từ loại "cây bình dân" đến năm 2005, hạt điều xuất khẩu đạt hơn 500 triệu USD, tạo việc làm cho 500 nghìn lao động và năm 2010, dự kiến khoảng một tỷ USD. Hiện nay ngành chế biến hạt điều đang khó khăn, do chưa chú trọng phát triển vùng nguyên liệu và sẽ khó khăn hơn nếu không có giải pháp căn cơ, lâu dài.
Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công thương) khuyến cáo các nhà xuất khẩu hạt tiêu nên tích trữ, không lo lắng bán tháo vì giá tiêu đang giảm nhẹ 10%.
Tất cả các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường Algeri là hàng ở trong nước họ không thể tự sản xuất được. Do vậy cơ hội cho hàng nông sản Việt Nam vào thị trường Algeri còn rất lớn.
“Xuất khẩu nông sản 8 tháng đầu năm đạt kết quả tốt, nhất là những tháng giữa năm khi yếu tố thị trường thế giới có lợi cho mặt hàng lương thực - thực phẩm”
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế lùi dần vào quá khứ, hoạt động đầu cơ nông sản lại bùng phát mạnh mẽ; giá lượng thực thực phẩm lại bị đẩy lên cao do các quỹ phòng hộ (hedge-fund) nhận thấy có thể thu lợi kếch xù từ việc đầu cơ nông sản.
Trong khi giá hồ tiêu trên thị trường đang ngày một tăng, trong đó loại tiêu đen lên đến 80.000 đồng/kg, tiêu trắng trên 100.000 đồng/kg, cao nhất trong bốn năm qua thì hàng trăm nông dân trồng tiêu tại hai huyện Chư Sê và Chư Pưh của Gia Lai đang đối mặt với một vụ tiêu trắng tay...
Từ giữa tháng 4 đến tháng 7/2010, Chính phủ có quyết định đồng ý cho mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê, 200.000 tấn muối, 1 triệu tấn lúa quy gạo, với mục đích ổn định thị trường, đảm bảo cho người sản xuất có lãi.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.