Hiện số lượng cảng biển của VN tăng khá nhanh trong vài năm gần đây, đặc biệt sau khi có Chiến lược Phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, do xuất phát từ những điểm yếu của quá trình quy hoạch đã khiến hệ thống cảng biển VN dù được đầu tư khá lớn vẫn được nhận định là “nhiều nhưng chưa chất”.
Thống kê cho thấy, cả nước hiện có gần 150 cảng, trong đó có 49 cảng biển tập trung thành 8 nhóm cảng lớn với 166 bến cảng và 330 khu vực neo đậu cho tàu thuyền ra vào. Tổng chiều dài bến cảng lên tới gần 40km, trong đó gần 26km dài bến để làm hàng tổng hợp, hàng container.
Hội chứng đua tranh
Điểm sáng hiếm hoi, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu mới khai trương cụm cảng nước sâu Cái Mép-Thị Vải trở thành nơi trung chuyển hàng hóa của quốc tế. Điều đáng nói, trong chiến lược phát triển cụm cảng này, tỉnh đã triển khai hàng loạt hệ thống hạ tầng. Chỉ riêng việc phục vụ cho phát triển dịch vụ cảng và logistics, UBND tỉnh cho biết dành quỹ đất 800 héc ta tại khu vực Cái Mép Hạ, đồng thời quy hoạch phát triển 26 dự án thủy nội địa, dịch vụ kho bãi... tổng diện tích được quy hoạch dành cho dịch vụ logistics ước tính vào khoảng 2.000 héc ta. Đây chính là những thế mạnh mà tất cả các cảng biển VN chưa có.
Giải thích về điều này, chuyên gia kinh tế Võ Đại Lược cho rằng, việc phát triển nhiều cảng biển trong thời gian qua đã diễn ra như một "hội chứng" đua tranh giữa các địa phương, thiếu cơ sở kinh tế, kỹ thuật, nên dẫn đến vừa lãng phí, vừa không đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế. Hầu hết các cảng biển còn nhỏ bé, manh mún. Số cảng biển có công suất trên 10 triệu tấn/năm chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Cảng lớn có khả năng đón tàu trọng tải trên 50.000 DWT hay trên 2.000 container lại càng hiếm hoi- chuyên gia nhìn nhận.
Cảng biển VN tính về số lượng là thế, về chất lượng cũng “không khá hơn là mấy”. Vì trên thực tế, theo báo cáo của ngành Hàng hải mới đây, trừ một số bến mới được xây dựng đưa vào khai thác gần đây được trang bị các thiết bị xếp dỡ tương đối hiện đại còn lại hầu hết các bến cảng vẫn sử dụng các thiết bị bốc xếp thông thường, quản lý điều hành quá trình bốc xếp bảo quản giao nhận hàng hóa với kỹ thuật công nghệ lạc hậu nên năng suất xếp dỡ của các cảng rất thấp. Bình quân năng suất xếp dỡ hàng tổng hợp 3.000 - 4.000 t/m dài bến, hàng container 12 - 25 thùng/cẩu - giờ, chỉ bằng khoảng 50 - 60% năng suất của các cảng tiên tiến trong khu vực.
Chính vì “hội chứng đua tranh” mà đã có không ít cảng biển sau khi được đưa vào sử dụng không lâu đã phải tạm dừng để đầu tư xây dựng lại. Đơn cử, thời gian qua, do hệ thống hạ tầng giao thông khu vực cảng Cái Mép chưa đồng bộ, chưa kết nối với hệ thống giao thông đường bộ khu vực đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả của các dự án cảng. Mặc dù quy mô và tổng mức đầu tư các dự án cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu rất lớn, nhưng hạ tầng giao thông sau cảng phục vụ quá trình thi công, khai thác cảng biển chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư. Vì vậy, việc đầu tư tuyến đường liên cảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết và được Thủ tướng Chính phủ cùng các bộ, ngành đặc biệt quan tâm chỉ đạo quyết liệt nhằm đưa dự án này sớm khởi động.
Vì quy hoạch... cũ
Trước thực tế trên, nhiều chuyên gia kinh tế khuyến cáo, VN cần nâng công suất hệ thống cảng biển lên gấp 2 - 3 lần, thậm chí phải tăng lên gấp 4 lần so với hiện nay vào năm 2020, tương ứng với việc xây dựng thêm 15 - 20km chiều dài cầu cảng mới với tổng mức đầu tư khoảng hơn 4 tỉ USD, mới có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Theo lập luận của chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cảng biển là kết cấu hạ tầng quan trọng của kinh tế hàng hải, nó phải đi trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế biển khác phát triển. Thời gian qua, việc này diễn ra không như ý muốn. Có người nói rằng do thiếu vốn đầu tư, cũng có quan điểm cho là do tư duy hạn hẹp. Nhưng sự thật hiển nhiên có thể thấy là thông thường, quy hoạch của chúng ta chỉ giới hạn đến 20 năm. “Tôi cho rằng, tầm nhìn của chúng ta cho quy hoạch cảng biển thời gian qua là quá ngắn, lo tập trung cho những cảng biển hiện có để đối phó với nhu cầu tăng trưởng, chứ chưa đủ tầm xa để hoạch định cho các cảng lớn mang tính cạnh tranh. Đó là lý do vì sao cần có quy hoạch mới và điều chỉnh quy hoạch hiện hữu”- ông Thành chia sẻ.
Đồng quan điểm trên, PGS.TSKH Nguyễn Ngọc Huệ - Cục trưởng Cục Hàng hải VN cũng cho rằng, bối cảnh xây dựng quy hoạch cảng biển trước đây và hiện nay có nhiều điểm khác nhau, nên mục tiêu xây dựng quy hoạch hệ thống cảng cũng khác nhau. Khi xây dựng quy hoạch hệ thống cảng đến năm 2010, hàng hóa và tàu bè đều ít nên chúng ta chỉ đưa ra mục tiêu hết sức khiêm tốn là hệ thống cảng biển phải đáp ứng được nhu cầu thông qua hết lượng hàng hóa như vậy vai trò của cảng là bị động.
Còn chiến lược quy hoạch hệ thống cảng biển đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 lại đưa ra mục tiêu cảng biển phải có vai trò chủ động để thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Như vậy, trước đây chúng ta thực hiện việc xây dựng cảng theo triết lý “có hàng mới xây cảng” còn theo quan điểm hiện nay “có cảng có khu công nghiệp, khu kinh tế sẽ có hàng” - PGS TSKH Nguyễn Ngọc Huệ lập luận.
Đi theo mô hình nào ?
Thứ trưởng Bộ GTVT, Trần Doãn Thọ khẳng định, đổi mới trong tư duy quy hoạch cảng biển trước hết cần xác định lại tên gọi của các cảng. Chẳng hạn như: Khu vực TP HCM chỉ còn duy nhất một tên gọi là cảng TP HCM và điều này cũng được áp dụng tương tự tại các vùng khác như Hải Phòng, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu... Nếu chúng ta làm được như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VN quảng bá các thương hiệu cảng ra thế giới. Còn các cảng hiện hữu như cảng Sài Gòn, Tân cảng Sài Gòn, Bến Nghé, Hiệp Phước... chỉ đóng vai trò là những bến xếp dỡ hàng.
Mặt khác, theo Thứ trưởng Thọ, việc phát triển cảng biển ở quy mô nào, vị trí nào sẽ được tính toán hết sức cụ thể trên cơ sở đó những điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của khu vực, nhưng trong đó có tính đến sự tương tác với các cảng biển lân cận. Cụ thể, chúng ta sẽ phải xây dựng tuyến đường giao thông kết nối giữa các cảng, điện, nước... đặc biệt sẽ coi trọng sự kết nối liên hoàn giữa cảng biển và mạng lưới giao thông quốc gia và các đầu mối logistic trong khu vực.
Do vậy, trong nội dung bản quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển sẽ kêu gọi đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống kết cấu hạ tầng cảng biển, không chỉ với cầu, bến cảng (như hiện nay) mà còn đối với hạ tầng công cộng biển như luồng tàu, đê ngăn sóng.
Hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng phát triển đến năm 2030 được quy hoạch: Theo vùng lãnh thổ (chia làm 6 nhóm) và quy mô, chức năng nhiệm vụ (có 3 loại: cảng tổng hợp quốc gia, cảng địa phương và cảng chuyên dùng):
1. Theo vùng lãnh thổ
Nhóm 1: Nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình;
Nhóm 2: Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh;
Nhóm 3: Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi;
Nhóm 4: Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận;
Nhóm 5: Nhóm cảng biển Đông Nam Bộ (bao gồm cả Côn Đảo và trên sông Soài Rạp thuộc Long An, Tiền Giang);
- Nhóm 6: Nhóm cảng biển đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm cả Phú Quốc và các đảo Tây Nam).
2. Theo quy mô chức năng, nhiệm vụ
- Cảng tổng hợp quốc gia: là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm: Cảng trung chuyển quốc tế: Vân Phong - Khánh Hòa; Cảng cửa ngõ quốc tế: Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu; Cảng đầu mối khu vực: Hòn Gai - Quảng Ninh, Nghi Sơn - Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Dương, Vũng Áng - Hà Tĩnh, Dung Quất - Quảng Ngãi, Quy Nhơn - Bình Định, Nha Trang, Ba Ngòi - Khánh Hòa, TP HCM, Đồng Nai, Cần Thơ.
PGS, TSKH Đặng Văn Uy - Hiệu trưởng Trường ĐH Hàng hải VN: Quy hoạch theo mô hình chính quyền cảng
Việc phát triển cảng biển ở quy mô nào, vị trí nào sẽ được tính toán hết sức cụ thể trên cơ sở những điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của khu vực, nhưng trong đó có tính đến sự tương tác với các cảng biển lân cận. Như vậy, sẽ khắc phục được tình trạng địa phương nào cũng muốn phát triển cảng biển, dẫn đến tình trạng "thừa" cảng biển một cách giả tạo như hiện nay. Bên cạnh đó, vấn đề hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ cũng sẽ được khắc phục. Một điều hoàn toàn mới trong bản quy hoạch này là mô hình chính quyền cảng. Mô hình này nhằm thống nhất quản lý các cảng trong khu vực, tránh tình trạng phát triển manh mún, tự phát, không đồng bộ. Chính quyền cảng không thay thế chính quyền địa phương, mà ngược lại, trong chính quyền cảng sẽ "có nhân sự" của chính quyền địa phương.
Ông Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Sử dụng vốn ưu đãi nước ngoài
Vốn đầu tư cho cảng là rất lớn trong khi đó các cảng hiện nay thì chỉ đủ sức cải tạo cảng hiện có chứ không có đủ vốn để đầu tư vào những cảng lớn được hoặc có thì cũng sẽ chia nhỏ qui mô, làm dần thành nhiều giai đoạn rất tốn kém và kéo dài. Vì vậy, nhà nước cần sử dụng vốn vay ưu đãi của nước ngoài, hoặc mở rộng liên kết với các hãng tàu, các nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư. Vì thực tế, sự đầu tư của các tập đoàn cảng biển lớn trên thế giới tại VN sẽ góp phần làm cho hệ thống cảng biển VN hiện đại hơn. Và không chỉ có thế, ở một góc độ nào đó, chính các tập đoàn này với tầm ảnh hưởng mang tính quốc tế cũng sẽ thu hút một lượng khách hàng không nhỏ đến cho chúng ta điều mà VN đang rất cần để phát triển hệ thống cảng biển, nhất là cảng container, thành những cảng mang tầm vóc khu vực và quốc tế.
Ông Nguyễn Hùng Việt - TGĐ Cty TNHH Một thành viên Cảng Hải Phòng: Quán triệt trong quản lý giá cước dịch vụ cảng biển
Người VN ta có câu thành ngữ: “Trăm người bán, vạn người mua“, nhưng đối với dịch vụ cảng hiện nay thì có lẽ ngược lại, trong lúc nhà nước không quản lý cước dịch vụ cảng thì vì đảm bảo việc làm nên một số cảng kể cả trong và ngoài Hiệp hội đã xảy ra hiện tượng hạ giá cước so với giá nhà nước đã qui định trước đây. Mức giảm trong những năm qua khoảng 15 - 20% thậm chí có cảng hạ 30% đối với mặt hàng container, mà thị phần container xuất nhập khẩu chủ yếu là do các hãng tàu nước ngoài vận tải do vậy lợi ích các cảng VN đã dần bị giảm sút, thậm chí 1 số cảng sẽ chuyển từ lãi sang lỗ. Thử làm phép tính bình quân nếu giảm 5 USD/Teu thì với sản lượng khoảng 5 triệu Teu container thì sẽ giảm 25 triệu USD mỗi năm.
Dù kết quả thu hút vốn đầu tư vào các khu chế xuất và các khu công nghiệp (KCX-KCN) TPHCM trong năm 2011 được đánh giá là rất cao, nhưng các công ty phát triển hạ tầng vẫn cho rằng họ gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư, nhất là cạnh tranh với các tỉnh lân cận.
Các khu công nghiệp đang hoạt động hiệu quả và đóng góp lớn vào nền kinh tế. Đây là khẳng định của một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhằm tổng kết lại tình hình hoạt động của các khu công nghiệp, vốn đang là đối tượng của các cuộc tranh luận gần đây về sự lãng phí đất đai và vốn đầu tư.
Sáng 19-3, Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn (CNS) vừa đề xuất UBND TPHCM cho phép CNS đầu tư xây dựng thêm 3 cụm công nghiệp để phục vụ ngành công nghiệp phụ trợ, di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm nhỏ lẻ ra ngoại thành.
Quá ít dự án lớn, xứng tầm có hàm lượng công nghệ cao; môi trường đầu tư thiếu thông thoáng, chất lượng lao động thấp, thủ tục đầu tư còn rườm rà... là những rào cản khiến “3 khu” (khu kinh tế, khu chế xuất và khu công nghiệp) phát triển chưa xứng tầm với tiềm năng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Sự phát triển ồ ạt nhiều cảng nước sâu tại khu vực cụm cảng Cái Mép – Thị Vải đã làm tăng nguy cơ thừa cảng thiếu hàng, ảnh hưởng đến những chuyến tàu mẹ ghé cảng lấy hàng vận chuyển trực tiếp đến Mỹ và châu Âu.
Tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị cho phép thành lập một số khu công nghiệp chuyên ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ.
Hàng ngàn tỉ đồng vốn ngân sách đã được đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) những năm qua với quy mô lên đến hàng trăm ngàn hecta. Thế nhưng, phần lớn KKTCK đều trong tình trạng đìu hiu, trung tâm thương mại, nhà xưởng xây xong “đắp chiếu”...
Công ty TNHH Tân Thuận – chủ đầu tư khu chế xuất Tân Thuận ở quận 7, TPHCM, cho biết trong thời gian tới công ty chỉ tập trung thu hút các ngành nghề kỹ thuật cao, phần mềm và các ngành nghề có giá trị gia tăng cao.
Khởi đầu từ Khu Kinh tế (KKT) mở Chu Lai (2003), chỉ sau chưa đầy 10 năm, Việt Nam hiện đã có 15 khu kinh tế ven biển từ Vân Đồn (Quảng Ninh) đến Năm Căn (Cà Mau). Và gần đây, 3 KKT mới được bổ sung thêm vào Quy hoạch là: KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT ven biển Thái Bình, KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định), với tổng diện tích mặt đất và mặt nước của 18 KKT là 721.782 ha.
Nhờ lợi thế là một quốc gia nằm sát đường hàng hải quốc tế, nơi có mật độ tàu qua lại vào loại đông nhất nhì thế giới và thuận lợi về điều kiện địa lý, Việt Nam có nhiều ưu thế để xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển.
Một thời các địa phương đua nhau xây dựng sân bay, khu kinh tế, cảng biển nhằm thu hút đầu tư… Giờ đây, khi vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế trở thành nóng bỏng thì nhìn ở góc độ nào đó, nói chủ trương trên là lãng phí đầu tư công cũng đúng hay thiếu quy hoạch cũng không sai!
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.