Sự phát triển ồ ạt nhiều cảng nước sâu tại khu vực cụm cảng Cái Mép – Thị Vải đã làm tăng nguy cơ thừa cảng thiếu hàng, ảnh hưởng đến những chuyến tàu mẹ ghé cảng lấy hàng vận chuyển trực tiếp đến Mỹ và châu Âu.
Ông Nguyễn Xuân Kỳ, Phó tổng giám đốc Cảng CMIT, cho biết vừa qua có hiện tượng tàu mẹ ít ghé các cảng trong cụm Cái Mép - Thị Vải để "ăn hàng". Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ xảy ra đối với một số cảng cùng nằm trong cụm cảng Cái Mép – Thị Vải, riêng đối với cảng CMIT, 2 tuyến trực tiếp đi Mỹ và châu Âu hiện nay vẫn hoạt động bình thường. Trong đó, hãng tàu Maersk Line nối trực tiếp từ Cái Mép đến Mỹ và hãng tàu CMA CGM đi châu Âu.
Hiện nay, mặc dù đường dẫn vào cảng Cái Mép đã hoàn thành nhưng việc quốc lộ 51 (con đường duy nhất để vận chuyển hàng hóa từ TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai ra cảng Cái Mép) chưa hoàn thành đang khiến việc vận chuyển hàng hóa ra cảng bị cản trở. Hiện tại, các doanh nghiệp vẫn phải vận chuyển bằng xà lan từ TPHCM ra Vũng Tàu để chuyển tiếp lên các tàu vận chuyển từ Việt Nam đi Mỹ và châu Âu.
Bên cạnh đó, ông Kỳ thừa nhận do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế thế giới, lượng hàng hóa xuất nhập tại khu vực cụm cảng Cái Mép – Thị Vải đang có chiều hướng giảm, trong khi số cảng container hoạt động mỗi năm một tăng. Cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, lượng hàng hoá giảm đi đã khiến những chuyến cập cảng “ăn hàng” của tàu mẹ trở nên kém hiệu quả.
Đại diện của một công ty liên doanh giao nhận hàng hóa cũng xác nhận lượng hàng của dịch vụ vận chuyển trực tiếp trong năm 2011 của đơn vị mình cũng đã giảm khoảng 1/3 so với cách đây 1 năm. Vị này phân tích, so với những chuyến chuyển tải, tức là có ghé qua các trung tâm trung chuyển đặt tại một số tỉnh phía Nam Trung Quốc, Hong Kong, Singapore, Malaysia…, các chuyến tàu trực tiếp qua Mỹ và 4 cảng lớn của châu Âu có chất lượng dịch vụ tốt hơn, giúp tiết kiệm thời gian, đặc biệt là đảm bảo thời gian giao hàng, mức độ xảy ra tình trạng “rớt hàng” ở những trung tâm chuyển tiếp.
Đây là những ưu điểm của dịch vụ này được nhiều khách hàng ưa chuộng nhưng các hãng tàu thì lại không “mặn mà” cho lắm.
Nguyên nhân là đối với những tàu đi chuyển tiếp, hãng tàu có thể ghé được nhiều cảng, bốc dỡ được nhiều hàng hoá từ nhiều nước, làm tăng doanh thu hơn so với đi trực tiếp từ một địa điểm không phải là trung tâm trung chuyển của khu vực như cụm Cái Mép – Thị Vải.
Theo giám đốc xuất khẩu của một doanh nghiệp chế biến gỗ ở Bình Dương, hiện trạng của các chuyến tàu đi trực tiếp đến Mỹ và châu Âu cũng đặt lại một vấn đề đã tồn tại từ rất nhiều năm của ngành ngoại thương Việt Nam, đi ngược lại với ngành ngoại thương nhiều nước trên thế giới.
Đó là nhà xuất khẩu giao hàng chủ yếu theo điều kiện FOB (free on board), giao hàng tại mạn tàu và nhập khẩu chủ yếu theo điều kiện CIF (cost, insurance, freight). Theo điều kiện FOB, người mua có nghĩa vụ phải trả cước tàu, chi phí bốc dỡ hàng lên tàu nếu chi phí này được tính vào trong cước và chịu các rủi ro kể từ khi nhận hàng từ tay người bán trên mạn tàu. Tuy nhiên, họ sẽ nắm trong tay quyền chủ động lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, chủ động thời gian giao hàng.
"Hiện nay 70% hợp đồng xuất khẩu của tôi được ký theo điều kiện FOB", ông nói.
Ngại rủi ro, thiếu am hiểu về thương mại và hàng hải quốc tế, đội tàu trong nước kém phát triển là những nguyên nhân khiến doanh nghiệp trong nước tiếp tục chọn lựa cách bán hàng khá bị động này.
Hiện số lượng cảng biển của VN tăng khá nhanh trong vài năm gần đây, đặc biệt sau khi có Chiến lược Phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, do xuất phát từ những điểm yếu của quá trình quy hoạch đã khiến hệ thống cảng biển VN dù được đầu tư khá lớn vẫn được nhận định là “nhiều nhưng chưa chất”.
Dù kết quả thu hút vốn đầu tư vào các khu chế xuất và các khu công nghiệp (KCX-KCN) TPHCM trong năm 2011 được đánh giá là rất cao, nhưng các công ty phát triển hạ tầng vẫn cho rằng họ gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư, nhất là cạnh tranh với các tỉnh lân cận.
Các khu công nghiệp đang hoạt động hiệu quả và đóng góp lớn vào nền kinh tế. Đây là khẳng định của một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhằm tổng kết lại tình hình hoạt động của các khu công nghiệp, vốn đang là đối tượng của các cuộc tranh luận gần đây về sự lãng phí đất đai và vốn đầu tư.
Sáng 19-3, Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn (CNS) vừa đề xuất UBND TPHCM cho phép CNS đầu tư xây dựng thêm 3 cụm công nghiệp để phục vụ ngành công nghiệp phụ trợ, di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm nhỏ lẻ ra ngoại thành.
Quá ít dự án lớn, xứng tầm có hàm lượng công nghệ cao; môi trường đầu tư thiếu thông thoáng, chất lượng lao động thấp, thủ tục đầu tư còn rườm rà... là những rào cản khiến “3 khu” (khu kinh tế, khu chế xuất và khu công nghiệp) phát triển chưa xứng tầm với tiềm năng.
Tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị cho phép thành lập một số khu công nghiệp chuyên ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ.
Hàng ngàn tỉ đồng vốn ngân sách đã được đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) những năm qua với quy mô lên đến hàng trăm ngàn hecta. Thế nhưng, phần lớn KKTCK đều trong tình trạng đìu hiu, trung tâm thương mại, nhà xưởng xây xong “đắp chiếu”...
Công ty TNHH Tân Thuận – chủ đầu tư khu chế xuất Tân Thuận ở quận 7, TPHCM, cho biết trong thời gian tới công ty chỉ tập trung thu hút các ngành nghề kỹ thuật cao, phần mềm và các ngành nghề có giá trị gia tăng cao.
Khởi đầu từ Khu Kinh tế (KKT) mở Chu Lai (2003), chỉ sau chưa đầy 10 năm, Việt Nam hiện đã có 15 khu kinh tế ven biển từ Vân Đồn (Quảng Ninh) đến Năm Căn (Cà Mau). Và gần đây, 3 KKT mới được bổ sung thêm vào Quy hoạch là: KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT ven biển Thái Bình, KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định), với tổng diện tích mặt đất và mặt nước của 18 KKT là 721.782 ha.
Nhờ lợi thế là một quốc gia nằm sát đường hàng hải quốc tế, nơi có mật độ tàu qua lại vào loại đông nhất nhì thế giới và thuận lợi về điều kiện địa lý, Việt Nam có nhiều ưu thế để xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển.
Một thời các địa phương đua nhau xây dựng sân bay, khu kinh tế, cảng biển nhằm thu hút đầu tư… Giờ đây, khi vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế trở thành nóng bỏng thì nhìn ở góc độ nào đó, nói chủ trương trên là lãng phí đầu tư công cũng đúng hay thiếu quy hoạch cũng không sai!
Những khiếm khuyết hiện hữu ở các cụm công nghiệp (CCN) của tỉnh Hải Dương đang từng ngày gây lãng phí về quỹ đất và thiệt hại cho DN. Vấn đề đặt ra là, sau gần chục năm phát triển, tại sao “truyền thống” thiếu hạ tầng kỹ thuật tại các CCN vẫn chưa được Hải Dương khắc phục có kết quả ?
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.