Ngành dệt may phát triển dựa trên một chuỗi sản xuất liên hoàn từ sản xuất bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải rồi mới đến may mặc. Việt Nam (VN) mới làm tốt được khâu cuối cùng. Sản xuất bông, xơ trong nước chỉ mới đáp ứng được 2% nhu cầu dệt sợi. Chương trình phát triển nguồn nguyên phụ liệu (NPL) cho ngành dệt may trong 10 năm qua vẫn “cà rịch, cà tang”. Liệu khi chúng ta làm được thì chất lượng NPL, công nghệ sản xuất có còn phù hợp, đáp ứng được yêu cầu ngày một cao hơn của thị trường thế giới?
Phát triển nguyên phụ liệu sẽ giúp ngành dệt may giảm giá cả đầu vào. Ảnh: Đức Trí
Không để mất trắng ngành sợi!
Ngành dệt may VN xác định, để gia tăng giá trị, có được mức lãi, mức dư thật sự từ sản xuất, xuất khẩu bắt buộc phải làm chủ được nguồn NPL dệt may, sản xuất trong nước. Hiện tại, các phụ liệu như chỉ, khóa kéo, khuy áo, tấm bông lót, bao bì... sản xuất trong nước đã đáp ứng được khoảng 60%-70% nhu cầu.
Riêng các công đoạn sản xuất ra vải may vẫn chưa khả quan. Ngoài thế mạnh ở khâu may mặc, các khâu khác các doanh nghiệp (DN) ở VN đều có làm, nhưng chưa ra tấm, ra miếng. Do thiếu đầu tư công nghệ, sản phẩm vải làm ra không thể cạnh tranh về mẫu mã cũng như giá cả với hàng nước ngoài.
Hiện nay, các DN dệt lớn tại VN chủ yếu cung cấp được vải sơ mi, ka ki, dệt thun. Vải thời trang sản xuất trong nước rất hiếm.
Ông Nguyễn Tiến Mạnh, Tổng Giám đốc Công ty May Mạnh Tiến (quận 12, TPHCM) chuyên sản phẩm quần tây, kaki, áo thun xuất khẩu 100% đi thị trường Mỹ cho biết, 90% NPL sản xuất đều mua của nước ngoài, 10% còn lại mua ở trong nước chủ yếu là nút, chỉ, dây kéo, vải lót, bao bì.
Nguyên nhân công ty ông phải chọn mua NPL của nước ngoài vì chất lượng, mẫu mã nhiều hơn. Trước đây, DN ông đã thử hợp tác, mua hàng của DN trong nước nhưng thấy không căn cơ, lâu dài được. Hơn nữa, giá bán NPL của nước ngoài rất cạnh tranh, cùng loại NPL giá có thể thấp hơn 20%-30% so với giá bán trong nước.
Trong chuỗi sản xuất liên hoàn từ sản xuất bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải, không chỉ thiếu trầm trọng nguyên liệu bông, xơ đầu vào mà ngành công nghiệp phụ trợ VN còn nhiều hạn chế trong khâu nhuộm và hoàn tất vải.
Diện tích, năng suất sản xuất bông, xơ tại VN hiện nay chỉ đáp ứng được 2% nhu cầu bông, xơ cho ngành dệt sợi. Ngành dệt sợi của VN xem như mất trắng nguồn cung nguyên liệu từ trong nước và phải nhập khẩu 98% bông xơ từ nước ngoài.
Hiện Chính phủ đã giao cho Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) làm đầu mối hồi phục phát triển cây bông, đi cùng với đó là các dự án phát triển thủy lợi phục vụ nước tưới ở vùng trọng điểm trồng bông.
Tuy nhiên, ông Lê Trung Hải, Phó Tổng Giám đốc Vinatex cho biết, hiện khâu nhuộm và hoàn tất vải là 2 khâu yếu nhất của VN. Vì để phát triển khâu này không chỉ đòi hỏi công nghệ máy móc mà quan trọng ở quản lý của con người và cả “bí quyết” pha trộn, phối màu của nghề.
Việc còn yếu khâu nhuộm, hoàn tất vải cũng làm ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp thời trang. Vì đây là công đoạn quyết định chất lượng, mẫu mã của vải để có thể cạnh tranh với hàng nước ngoài. Nếu có được nguồn NPL tại chỗ sẽ giúp các nhà thiết kế chủ động tìm nguyên liệu cho thiết kế.
Với những hạn chế trên, chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ xuất khẩu (từ năm 2007 đến 2015) mà Bộ Công thương đề ra còn quá xa vời! Nhiều DN dệt may đặt vấn đề, khi chúng ta cố gắng để phát triển công nghiệp phụ trợ, trải qua một thời gian chờ đợi khá dài, 5-10 năm tới khi VN hình thành, làm được chuỗi sản xuất liên hoàn ở trên thì công nghệ của ta có lỗi thời, NPL làm ra có phù hợp với nhu cầu ngày một cao hơn của thị trường thế giới?
Phá sản trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu?
Khi nguồn NPL trong nước chưa thể đáp ứng đủ, để tạo cho điều kiện thuận lợi cho DN sản xuất tiếp cận, tìm mua nguồn NPL nhanh và dễ dàng hơn, ngành dệt may đã kêu gọi đầu tư xây dựng các trung tâm giao dịch NPL. Đây sẽ là nơi để người bán và người mua gặp nhau. Không chỉ có các DN dệt trong nước trưng bày, giới thiệu sản phẩm, tiếp cận đến nhà sản xuất mà ngay cả các nhà cung cấp NPL của nước ngoài cũng tham gia.
Mục đích của trung tâm NPL này giúp nhà sản xuất chủ động tìm mua được nguồn NPL, rút ngắn bớt thời gian giao hàng của nhà sản xuất. Rõ ràng, đây là ý tưởng hay và thật sự cần thiết đối với ngành dệt may VN. Vì vậy, đã có nhiều DN tiên phong đi đầu trong việc hình thành trung tâm giao dịch NPL.
Thế nhưng, mọi dự tính của ngành và DN đầu tư không như mong ước. Các trung tâm giao dịch NPL được xây dựng quy mô, hoành tráng vẫn “vườn không, nhà trống”, người bán, người mua chẳng cần đến trung tâm.
Trung tâm NPL Sanding TAM của Công ty CP May Sài Gòn 2 (quận Tân Bình, TPHCM) đi vào hoạt động từ giữa năm 2008 đến nay chỉ có khoảng 10 gian hàng thuê hoạt động dù đã đưa ra nhiều chính sách kêu gọi người bán cả trong lẫn ngoài nước. Trung tâm NPL dệt may, da giày của Công ty TNHH Liên Anh (đặt tại xã Tân Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương) quy mô lớn hơn, diện tích 8,5 ha gồm chợ NPL, kho nội địa, kho ngoại quan, khu văn phòng làm việc, phòng hội nghị... đầu tư trên 100 tỷ đồng, đã hoạt động từ tháng 5-2009 nhưng cũng rơi vào tình cảnh ảm đạm.
Sau khi đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, nhiều cuộc họp bàn của Bộ Công thương để tìm cách giải quyết bế tắc nhưng ngành vẫn không thể “cứu sống” trung tâm giao dịch NPL. DN đầu tư dù có tâm huyết với ngành cũng không thể nhìn tiền tỷ bỏ hoang! Sanding TAM sẽ được cho thuê làm trường học. Trung tâm NPL dệt may, da giày Liên Anh đã trở thành kho chứa xe máy! Bà Trương Thị Thúy Liên, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Liên Anh cho biết, không còn cách nào khác, DN phải cho thuê làm kho, thu được đồng nào hay đồng đó. Nhưng về lâu dài, bà vẫn hy vọng trung tâm giao dịch NPL sẽ sống trở lại!
Khi còn là Thứ trưởng Bộ Công thương, ông Bùi Xuân Khu đã nhiều lần tổ chức họp bàn, tháo gỡ vấn đề này. Ông Khu khẳng định sẽ rất lãng phí nếu như nhà đầu tư buộc phải chuyển đổi công năng hoạt động. Đây là một nghịch lý vì gần 10 năm nay, Vinatex đi tìm mãi mà vẫn chưa có chỗ để xây dựng trung tâm NPL, nay đã có chỗ lại không thể tổ chức hoạt động được.
Giá bông nhập khẩu (NK) tăng cao đang đẩy nhiều doanh nghiệp (DN) dệt may (DM) trong nước lâm vào tình thế khó khăn vì chi phí sản xuất đội lên. Từ đầu tháng 4, giá bông NK đã lên tới 1,9-1,92 USD/kg, tăng 35% so với đầu năm (tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2009).
Nghiên cứu tại một số DN dệt may VN cho thấy, nhiều DN đã có những giải pháp sống chung với tình trạng thiếu lao động một cách rất hiệu quả. Trước hết, đừng để mất lao động.
Việc ký các đơn hàng đầy ắp từ đầu năm đến nay đã khiến dệt may nhanh chóng xếp thứ 4 trong nhóm 6 mặt hàng xuất khẩu đã đạt kim ngạch trên 1 tỉ đô la Mỹ (ước đạt 3,04 tỉ đô la qua 4 tháng, tăng 18,9% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nghịch lý là ở chỗ, các doanh nghiệp xuất khẩu không vì thế mà hào hứng vì càng xuất khẩu được nhiều thì nguy cơ lỗ càng cao.
Xuất khẩu giày dép của Indonesia có thể đạt 3 tỷ USD mỗi năm trong vòng 3 năm tới do có nhiều nhà máy sản xuất nổi tiếng từ các quốc gia Đông Nam Á khác chuyển đến.
Thực trạng của ngành dệt may trong những năm gần đây đã gây nhiều bức xúc cho những người trực tiếp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này. Chúng tôi xin giới thiệu một số ý kiến của người trong cuộc về những vấn đề trên.
Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu (XK) bình quân 30%/năm, năm 2008 hàng may mặc Việt Nam (VN) chính thức lọt vào top 10 nước XK dệt may hàng đầu thế giới. Cùng với đó, kim ngạch XK hàng dệt may đã từng bước vượt qua nhiều ngành hàng khác để trở thành quán quân trong các ngành hàng XK của VN. Tuy nhiên, sự tăng trưởng hàng tỷ USD mỗi năm cũng chỉ là con số “hữu danh vô thực” vì thực tế, xuất nhiều mà nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất cũng rất cao.
Quý I-2010, ngành dệt may (DM) đã vượt qua dầu thô, vươn lên đứng đầu trong nhóm hàng công nghiệp xuất khẩu (XK) chủ lực, với kim ngạch XK đạt khoảng 2,16 tỷ USD (tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái). Dù giá bán các sản phẩm này chưa trở lại thời kỳ đỉnh cao, nhưng đây là tín hiệu khả quan để ngành DM đạt kim ngạch XK 10,5 tỷ USD trong năm 2010.
Với mục tiêu đạt kim ngạch 10,5 tỷ USD, Bộ Công thương đã có đề án xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận, thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may đã cũ.
Rất hiếm có người nào có thể nhìn trước được tương lai, đặc biệt là trong kinh doanh. Thị trường vận động, thích ứng theo cách riêng của nó và những biến đổi đó không dễ để có thể dự đoán được. Tuy nhiên, trong những trường hợp hiếm hoi đó, chúng ta có cơ hội để nhìn trước được sự thay đổi trong ngành dệt may Việt Nam, một vận động không quá lớn nhưng thực tế đang diễn ra và mang đến những sự thay đổi tích cực và đáng kể.
Theo hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), hiện nay khoảng 80% doanh nghiệp ngành may đã có đơn hàng đến quý 3, quý 4. Một số doanh nghiệp thận trọng ký hợp đồng theo từng quý vì sợ không đủ hàng giao.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.