Thực trạng của ngành dệt may trong những năm gần đây đã gây nhiều bức xúc cho những người trực tiếp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này. Chúng tôi xin giới thiệu một số ý kiến của người trong cuộc về những vấn đề trên.
Ông Nguyễn Ân, Tổng Giám đốc Công ty CP SX-TM-DV Sài Gòn Chú trọng công nghệ và năng suất
Các đối tác nước ngoài nhập khẩu hàng của chúng tôi đánh giá rất cao tay nghề của công nhân VN. Đó chính là một trong những lợi thế làm tăng tính cạnh tranh của ngành dệt may VN so với các nước xuất khẩu (XK) khác như Trung Quốc, Ấn Độ… Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi có được, dệt may VN cũng gặp bất lợi trong cạnh tranh do sự phiền hà trong thủ tục hải quan. Dù thủ tục hải quan ở VN hiện nay đã được cải tiến nhưng vẫn chưa thật thông thoáng cho những DN XK.
Hiện nay, trên thế giới đang có xu hướng rút ngắn thời gian sản xuất. Trước đây, một đơn hàng lớn từ lúc ký hợp đồng đến lúc giao hàng nhà nhập khẩu cho thời hạn thực hiện trong 180 ngày nhưng nay chỉ thực hiện trong 80 – 90 ngày. Đối với những đơn hàng nhanh từ 60 ngày xuống còn 25 - 35 ngày. Nếu thời gian nhập nguyên phụ liệu (NPL), xuất hàng ở cảng quá lâu sẽ gây khó khăn lớn cho DN.
Lao động Việt Nam sang làm việc tại các công ty may ở Malaysia được trả 600 USD/tháng. So với mức thu nhập đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài thì mức lương trên thuộc vào hàng thấp nhưng so với mức lương khoảng 120 -150 USD của lao động dệt may tại VN thì mức lương trên khá cao.
Hiện tại, nhiều DN dệt may lớn tại VN, kinh doanh tốt mức lương cũng không vượt quá 200 USD/tháng. Sự chênh lệch này không có nghĩa là các DN dệt may ở Malaysia bán được giá cao hơn DN VN nhưng cách quản lý, năng suất lao động của họ cao hơn và đây là yếu tố quan trọng để làm gia tăng giá trị.
Ông Phạm Xuân Hồng, Tổng Giám đốc Công ty CP May Sài Gòn 3 Không nên thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc người lao động bỏ ngành may là do chính sách tiền lương. Chi phí đầu vào, giá cả sinh hoạt của người lao động tăng nhưng DN không thể điều chỉnh mức lương như mong muốn của người lao động được vì giá bán, gia công hàng XK không cải thiện. Thậm chí, trong năm 2009, ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đơn hàng, giá bán giảm 10% -20% nhưng DN vẫn cố gắng xoay xở để tăng lương 10%, hỗ trợ chi phí cho người lao động.
Thật tình không có chuyện DN dệt may trong nước bóc lột lao động. Các DN đã cố gắng hết sức để chăm lo đời sống, giữ chân người lao động. Dù nhà nhập khẩu có chia sẻ, chịu tăng 10% giá bán (so với thời điểm khủng hoảng) thì DN rất khó để bù đắp cho người lao động. Vì vậy, DN rất cần sự tiếp sức của Nhà nước, có thể giảm, tạm không thu trong ngắn hạn và dài hạn thuế thu nhập DN 20% để DN lấy khoản chi này chăm lo đời sống người lao động. Đây cũng là một cách để ngành may thu hút lao động.
Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may – Thêu đan TPHCM Phát triển công nghiệp phụ trợ
Có quá nhiều cái khó để trung tâm NPL có thể đi vào hoạt động như mong ước. Việc này, ngay chính các nhà đầu tư, hiệp hội ngành nghề cũng không thể lường trước được. Để có “chợ” phải có người mua và người bán. Thế nhưng, người mua - những DN sản xuất của VN lại không có quyền mua NPL. Vì phần lớn đơn hàng sản xuất là hàng gia công. Ngay cả đơn hàng FOB cũng do nhà nhập khẩu chỉ định nguồn NPL. Vì vậy, các nhà sản xuất không cần đến chợ để mua NPL.
Hơn nữa, hiện nay các DN sản xuất dường như đã có sẵn nhà cung ứng NPL quen thuộc. Và cách đặt, mua hàng cũng có nhiều thuận lợi. Do vậy, để có thể thu hút người mua đến chợ, các trung tâm NPL này phải có được sự cạnh tranh về giá cả, thời gian cung ứng, mẫu mã. Và điều này còn phải đợi sự đầu tư, phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ trong nước cũng như các chính sách về thuế, kho ngoại quan để thu hút nhà cung cấp NPL nước ngoài.
Ông Lê Trung Hải, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt May VN (Vinatex) Tăng tỷ lệ nội địa hóa
So với thời điểm 5-10 năm trước, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may đã phát triển nhiều. Hiện kéo sợi và dệt của VN đang trên quá trình phát triển tốt. Thời điểm hiện nay nhà máy sản xuất sợi polyester, công suất 160.000 tấn/năm do các DN trong nước đầu tư với số vốn 320 triệu USD đang trong giai đoạn lắp ráp, hoàn thành. Dự kiến đến tháng 5-2011, nhà máy này sẽ đi vào hoạt động.
Cùng với đó, một nhà máy sản xuất xơ của nước ngoài đầu tư tại Nhơn Trạch (Đồng Nai), công suất 60.000 tấn/năm sẽ cung ứng cơ bản xơ cho ngành dệt. Với việc đầu tư trong thời gian gần đây, ngành dệt may hy vọng sang năm 2011 sẽ cung ứng được 70% nhu cầu sợi trong nước. Dù quy trình khép kín NPL trong vẫn còn nhiều khâu yếu nhưng tỷ lệ nội địa hóa NPL trong nước đang gia tăng mỗi năm. Đó là dấu hiệu vui, nhiều hy vọng cho ngành dệt may trong thời gian tới.
Ngành dệt may phát triển dựa trên một chuỗi sản xuất liên hoàn từ sản xuất bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải rồi mới đến may mặc. Việt Nam (VN) mới làm tốt được khâu cuối cùng. Sản xuất bông, xơ trong nước chỉ mới đáp ứng được 2% nhu cầu dệt sợi.
Giá bông nhập khẩu (NK) tăng cao đang đẩy nhiều doanh nghiệp (DN) dệt may (DM) trong nước lâm vào tình thế khó khăn vì chi phí sản xuất đội lên. Từ đầu tháng 4, giá bông NK đã lên tới 1,9-1,92 USD/kg, tăng 35% so với đầu năm (tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2009).
Nghiên cứu tại một số DN dệt may VN cho thấy, nhiều DN đã có những giải pháp sống chung với tình trạng thiếu lao động một cách rất hiệu quả. Trước hết, đừng để mất lao động.
Việc ký các đơn hàng đầy ắp từ đầu năm đến nay đã khiến dệt may nhanh chóng xếp thứ 4 trong nhóm 6 mặt hàng xuất khẩu đã đạt kim ngạch trên 1 tỉ đô la Mỹ (ước đạt 3,04 tỉ đô la qua 4 tháng, tăng 18,9% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nghịch lý là ở chỗ, các doanh nghiệp xuất khẩu không vì thế mà hào hứng vì càng xuất khẩu được nhiều thì nguy cơ lỗ càng cao.
Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu (XK) bình quân 30%/năm, năm 2008 hàng may mặc Việt Nam (VN) chính thức lọt vào top 10 nước XK dệt may hàng đầu thế giới. Cùng với đó, kim ngạch XK hàng dệt may đã từng bước vượt qua nhiều ngành hàng khác để trở thành quán quân trong các ngành hàng XK của VN. Tuy nhiên, sự tăng trưởng hàng tỷ USD mỗi năm cũng chỉ là con số “hữu danh vô thực” vì thực tế, xuất nhiều mà nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất cũng rất cao.
Quý I-2010, ngành dệt may (DM) đã vượt qua dầu thô, vươn lên đứng đầu trong nhóm hàng công nghiệp xuất khẩu (XK) chủ lực, với kim ngạch XK đạt khoảng 2,16 tỷ USD (tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái). Dù giá bán các sản phẩm này chưa trở lại thời kỳ đỉnh cao, nhưng đây là tín hiệu khả quan để ngành DM đạt kim ngạch XK 10,5 tỷ USD trong năm 2010.
Với mục tiêu đạt kim ngạch 10,5 tỷ USD, Bộ Công thương đã có đề án xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận, thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may đã cũ.
Rất hiếm có người nào có thể nhìn trước được tương lai, đặc biệt là trong kinh doanh. Thị trường vận động, thích ứng theo cách riêng của nó và những biến đổi đó không dễ để có thể dự đoán được. Tuy nhiên, trong những trường hợp hiếm hoi đó, chúng ta có cơ hội để nhìn trước được sự thay đổi trong ngành dệt may Việt Nam, một vận động không quá lớn nhưng thực tế đang diễn ra và mang đến những sự thay đổi tích cực và đáng kể.
Theo hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), hiện nay khoảng 80% doanh nghiệp ngành may đã có đơn hàng đến quý 3, quý 4. Một số doanh nghiệp thận trọng ký hợp đồng theo từng quý vì sợ không đủ hàng giao.
Quý I vừa qua, dệt may tiếp tục là ngành xuất khẩu dẫn đầu cả nước với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,2 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã ký được hợp đồng xuất khẩu đến hết năm 2010. Ðây là tín hiệu khả quan để năm 2010, ngành dệt may có thể hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD. Tuy nhiên, không ít khó khăn, thách thức mới đang đặt ra đối với ngành dệt may.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.