Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu (XK) bình quân 30%/năm, năm 2008 hàng may mặc Việt Nam (VN) chính thức lọt vào top 10 nước XK dệt may hàng đầu thế giới. Cùng với đó, kim ngạch XK hàng dệt may đã từng bước vượt qua nhiều ngành hàng khác để trở thành quán quân trong các ngành hàng XK của VN. Tuy nhiên, sự tăng trưởng hàng tỷ USD mỗi năm cũng chỉ là con số “hữu danh vô thực” vì thực tế, xuất nhiều mà nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất cũng rất cao.
May hàng xuất khẩu tại Công ty cổ phần May Sài Gòn 3. Ảnh: CAO THĂNG
Sản xuất FOB: nhà nhập khẩu chỉ định nguyên phụ liệu
Sản xuất hàng FOB (mua đứt, bán đoạn) đã là niềm khao khát và là mục tiêu lớn của các doanh nghiệp (DN) ngành dệt may (DM) VN vì có làm hàng FOB thì mới thấy được giá trị gia tăng; sau phép cộng trừ giữa xuất và nhập để có được con số dư nhiều hơn. Đó là cái “hữu thực” mà ngành DM luôn hướng đến. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này, 70% đơn hàng dệt may sản xuất tại VN vẫn là hàng gia công, 30% đơn hàng còn lại sản xuất trên danh nghĩa hàng FOB.
Và thực chất, hàng FOB mà các DN DM đang làm cũng chỉ là một hình thức gia công cấp cao hơn. Để làm hàng FOB, nhà sản xuất phải chủ động làm tất cả từ khâu thiết kế mẫu mã, chọn nguyên phụ liệu (NPL), chào hàng đến nhà nhập khẩu (NNK), sản xuất, giao hàng. Trong khi đó, sản xuất FOB mà các DN VN đang làm = gia công + thêm một khoản tiền trách nhiệm. Đây là phép tính, những chia sẻ thật tình của nhiều DN lớn làm hàng FOB tại TPHCM.
Việc tăng tỷ lệ làm hàng FOB của DN trong thời gian gần đây, không hẳn do năng lực cũng như sự chủ động chuyển cơ cấu sản xuất của DN VN mà đây là cách làm mới của các NNK nhằm giảm trách nhiệm cũng như chi phí. Nếu làm hàng gia công, NNK phải chịu tất cả mọi khâu trong sản xuất và tốn chi phí thuê chuyên gia để giám sát.
Trong quá trình sản xuất, nếu thiếu chút vải, hột nút, hư hao thì NNK cũng phải lo mua và gởi cho DN gia công. Khi chuyển qua làm FOB, NNK sẽ chuyển trách nhiệm lo toan việc thiếu hụt NPL cho nhà sản xuất, cắt giảm bớt chi phí thuê chuyên gia giám sát. Bù vào đó, nhà sản xuất có thêm mức lời cao hơn so với mức gia công trên sản phẩm. Đó là tình trạng chung của việc sản xuất hàng FOB tại VN hiện nay.
Thực tế, có rất ít DN có thể thương thảo để có thể chủ động tự tìm mua nguồn NPL để sản xuất vì việc này sẽ giúp DN có thêm nguồn lợi nhuận. Hiện tại, phần lớn đơn hàng sản xuất FOB, nguồn NPL sản xuất đều do NNK chỉ định. Điều này cũng có nghĩa rằng, NNK chắc chắn biết được giá bán NPL sát nhất để đưa ra giá mua sát nút với DN VN khi đàm phán và cũng có thể NNK hưởng phần trăm lợi nhuận từ nhà cung cấp NPL khi chỉ định mua hàng, hoặc NNK là công ty mẹ, công ty thành viên với nhà cung cấp NPL.
Tại TPHCM hiện nay, chính mối quan hệ “dây mơ, rễ má” giữa các công ty mẹ ở nước ngoài – công ty con ở VN đã dẫn đến các trường hợp gian lận thương mại, trốn thuế. Cục Thuế TPHCM đã phát hiện nhiều DN dệt may FDI báo cáo lỗ, có dấu hiệu trốn thuế. Việc chuẩn hóa các số liệu xuất - nhập khẩu giữa đầu vào và đầu ra giữa các công ty mẹ - con là kẽ hở tạo điều kiện để các DN FDI báo lỗ, trốn thuế. Trong hơn 2.000 DN dệt may tại VN, DN FDI chiếm khoảng 40%.
Thiếu hụt lao động: áp lực cho ngành dệt may
DN DM VN đã tạo uy tín, gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, vượt qua nhiều đối thủ mạnh như Trung Quốc, Thái Lan, Bangladesh, Indonesia…để thu hút đơn hàng, NNK. Điều này đã minh chứng rõ trong năm 2009. Do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, hầu hết các nước XK dệt may đều giảm sút tại các thị trường thì hàng dệt may VN vẫn đảm bảo XK, vẫn có tăng trưởng chút ít (khoảng 1%) trong năm 2009. Khối lượng hàng XK vẫn tăng so với năm 2008 nhưng do đơn giá trung bình giảm 10%-15% nên tổng kim ngạch XK giảm.
Những dây chuyền dệt hiện đại sẽ cho sản phẩm chất lượng cao, tiết kiệm điện. Ảnh: CAO THĂNG
VN đang có nhiều thuận lợi trong thu hút NNK cũng như đón đầu sự dịch chuyển sản xuất dệt may từ các nước trong khu vực châu Á. Tuy nhiên, đi ngược lại với tăng trưởng XK nhích lên từng năm thì lực lượng lao động của ngành dệt may lại đang giảm sút nghiêm trọng. Việc thiếu lao động hiện nay đang là một áp lực lớn đối với ngành có thâm dụng lao động như dệt may.
Dệt may đã từng là ngành “thời thượng”, nhà nhà ở TPHCM mở xưởng may. Tỷ lệ DN tư nhân nhỏ và vừa ra rất nhiều. Các công ty, nhà máy ở các khu chế xuất, khu công nghiệp TP lớn đã trở thành miền đất hứa cho lao động các tỉnh đổ về. Nhưng nay, ngành may đã không còn hấp dẫn. DN tư nhân rơi rụng. Nhiều DN cho biết con cái họ đã thẳng thừng từ chối tiếp quản nghề của cha mẹ, nghề của gia đình để lại.
Hiện nay, còn lại nhiều công ty lớn, tách ra từ các công ty nhà nước. Những công ty này được lợi thế là có sẵn về mặt bằng, nhà xưởng. Một DN xuất khẩu lớn tại TPHCM có 90% đơn hàng XK đi nước ngoài, trong đó tỷ lệ làm hàng FOB chiếm đến 70%, có lợi nhuận sau thuế hàng chục tỷ đồng, lương trả cho người lao động thuộc hàng cao, trung bình khoảng 3 - 3,5 triệu đồng/tháng. Nhưng lợi nhuận thực từ hoạt động sản xuất dệt may mang lại chỉ khoảng 40%. 60% còn lại từ các hoạt động kinh doanh khác. Ví dụ trên cho thấy, chính việc “có tiếng, chưa có miếng” đã và đang tạo ra áp lực lớn cho ngành dệt may.
Trong khi đó, dù đang có những thuận lợi về đơn hàng, nhưng DN VN vẫn khó có được giá bán dễ thở vì sự đeo bám sát nút của NNK. Các DN dệt may cho rằng, trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, chi phí, giá cả đầu vào tăng cao, NNK chịu tăng giá chút ít, nhưng bấy nhiêu không đủ để DN tăng lương, hỗ trợ mức sống cho người lao động. Vì hiện nay, DN đang chịu nhiều gánh nặng trong chi phí đầu vào. Để níu kéo, giữ lao động ở lại bằng việc tăng lương thì DN không đủ sức.
Thực trạng của ngành dệt may trong những năm gần đây đã gây nhiều bức xúc cho những người trực tiếp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này. Chúng tôi xin giới thiệu một số ý kiến của người trong cuộc về những vấn đề trên.
Ngành dệt may phát triển dựa trên một chuỗi sản xuất liên hoàn từ sản xuất bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải rồi mới đến may mặc. Việt Nam (VN) mới làm tốt được khâu cuối cùng. Sản xuất bông, xơ trong nước chỉ mới đáp ứng được 2% nhu cầu dệt sợi.
Giá bông nhập khẩu (NK) tăng cao đang đẩy nhiều doanh nghiệp (DN) dệt may (DM) trong nước lâm vào tình thế khó khăn vì chi phí sản xuất đội lên. Từ đầu tháng 4, giá bông NK đã lên tới 1,9-1,92 USD/kg, tăng 35% so với đầu năm (tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2009).
Nghiên cứu tại một số DN dệt may VN cho thấy, nhiều DN đã có những giải pháp sống chung với tình trạng thiếu lao động một cách rất hiệu quả. Trước hết, đừng để mất lao động.
Việc ký các đơn hàng đầy ắp từ đầu năm đến nay đã khiến dệt may nhanh chóng xếp thứ 4 trong nhóm 6 mặt hàng xuất khẩu đã đạt kim ngạch trên 1 tỉ đô la Mỹ (ước đạt 3,04 tỉ đô la qua 4 tháng, tăng 18,9% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nghịch lý là ở chỗ, các doanh nghiệp xuất khẩu không vì thế mà hào hứng vì càng xuất khẩu được nhiều thì nguy cơ lỗ càng cao.
Quý I-2010, ngành dệt may (DM) đã vượt qua dầu thô, vươn lên đứng đầu trong nhóm hàng công nghiệp xuất khẩu (XK) chủ lực, với kim ngạch XK đạt khoảng 2,16 tỷ USD (tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái). Dù giá bán các sản phẩm này chưa trở lại thời kỳ đỉnh cao, nhưng đây là tín hiệu khả quan để ngành DM đạt kim ngạch XK 10,5 tỷ USD trong năm 2010.
Với mục tiêu đạt kim ngạch 10,5 tỷ USD, Bộ Công thương đã có đề án xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận, thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may đã cũ.
Rất hiếm có người nào có thể nhìn trước được tương lai, đặc biệt là trong kinh doanh. Thị trường vận động, thích ứng theo cách riêng của nó và những biến đổi đó không dễ để có thể dự đoán được. Tuy nhiên, trong những trường hợp hiếm hoi đó, chúng ta có cơ hội để nhìn trước được sự thay đổi trong ngành dệt may Việt Nam, một vận động không quá lớn nhưng thực tế đang diễn ra và mang đến những sự thay đổi tích cực và đáng kể.
Theo hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), hiện nay khoảng 80% doanh nghiệp ngành may đã có đơn hàng đến quý 3, quý 4. Một số doanh nghiệp thận trọng ký hợp đồng theo từng quý vì sợ không đủ hàng giao.
Quý I vừa qua, dệt may tiếp tục là ngành xuất khẩu dẫn đầu cả nước với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,2 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã ký được hợp đồng xuất khẩu đến hết năm 2010. Ðây là tín hiệu khả quan để năm 2010, ngành dệt may có thể hoàn thành mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD. Tuy nhiên, không ít khó khăn, thách thức mới đang đặt ra đối với ngành dệt may.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn do giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng, thiếu hụt nguồn lao động..., nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu ngành may mặc, đồ gỗ, da giày, vẫn đạt mức tăng trưởng khá, từ 10% trở lên trong quý I/2010.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.