Loạt bài “Xuất khẩu dệt may: Nỗi buồn quán quân!” vừa qua cho thấy thực trạng của ngành dệt may Việt Nam (VN) - một ngành kinh tế mang về kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng có rất nhiều điểm yếu. Đã gắn bó với ngành dệt may một thời gian dài, ông Diệp Thành Kiệt, nêu một số ý kiến về vấn đề này.
Cải thiện thu nhập là cách để công nhân gắn bó với doanh nghiệp. Ảnh: CAO THĂNG
Giữ người chứ không tìm người
Nghiên cứu tại một số DN dệt may VN cho thấy, nhiều DN đã có những giải pháp sống chung với tình trạng thiếu lao động một cách rất hiệu quả. Trước hết, đừng để mất lao động.
Theo nghiên cứu trước đây của Trung tâm Đào tạo dệt may quốc tế (IGTC), khi mất một lao động có tay nghề, DN phải tốn trên 1.000 USD (gần 20 triệu đồng) để đào tạo ra một lao động mới. Do vậy, chính sách đối với lao động phải là chính sách giữ người chứ không phải tìm người như phần lớn các DN đưa ra.
Thử đặt câu hỏi tại sao DN lại sẵn sàng bỏ tiền để tìm người rồi tốn chi phí đào tạo nhưng lại tiếp tục mất nữa. Chi phí này không nhỏ nhưng vì đã mất lao động nên chủ DN phải chi bằng mọi giá để tìm người.
Trong tình hình hiện nay, DN hãy suy nghĩ ngược lại, cố gắng chuyển các chi phí đó vào lương, vào phúc lợi nhằm tăng thêm nguồn thu nhập để người lao động không bỏ DN. Kế đó, DN phải thường xuyên cải thiện môi trường làm việc, đầu tư các thiết bị chuyên dùng, áp dụng các giải pháp tăng năng suất để liên tục tăng thu nhập cho người lao động.
Hiện nay, chương trình Better work (làm việc tốt hơn) là một chương trình hỗ trợ DN dệt may do hai tổ chức quốc tế là IFC (Tổ chức Tài chính Quốc tế) và ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế) thành lập nhưng có nhiều DN chưa biết và chưa tham gia.
Khi nói đến chủ động nguồn nguyên phụ liệu (NPL), nâng cao giá trị sản phẩm trong nước, chúng ta thường nghĩ đến việc phải sản xuất mọi thứ trong nước. Điều sai lầm này sẽ dẫn đến việc đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực, những sản phẩm mà chúng ta không có lợi thế cạnh tranh.
Do vậy, cần đánh giá đầy đủ những chủng loại NPL nào cho ngành dệt may mà VN sẽ có lợi thế hơn các nước khác. Tức nếu sản xuất tại VN, nguyên liệu đó sẽ có giá thành hạ hơn và giúp tạo nên khoản chênh lệch về giá và từ đó tạo nhiều giá trị gia tăng. Còn nếu sản xuất tất cả các chủng loại vật tư và sản xuất bằng mọi giá chỉ càng làm tình hình xấu thêm.
Xây dựng ngành công nghiệp thời trang
Ngành dệt may VN hiện nay vẫn là ngành công nghiệp sản xuất đơn thuần. Giá bán hàng thường xây dựng theo công thức như một sản phẩm công nghiệp. Đó là: Giá bán sản phẩm công nghiệp = giá vật tư + giá tiền công + một phần lãi cố định do khách hàng chấp thuận (thường rất thấp).
Do vậy, với tình hình giá nhân công tăng nhanh trong thời gian qua và những năm sắp tới, nếu một ngành công nghiệp sản xuất đơn thuần, kể cả kinh doanh theo phương thức mua đứt, bán đoạn (FOB), cũng chỉ đủ ăn, không thể nào có được những tích lũy cần thiết để tái đầu tư. Đó là chưa nói đến việc mở rộng hoặc nâng cao công nghệ sản xuất.
Cho nên cần khai thác hai lợi thế ngành dệt may VN hiện nay, để có thể chuyển thành một ngành công nghiệp thời trang. Thứ nhất, VN đã có thời gian khá dài tiếp cận với những thương hiệu lớn của thế giới khi họ đến đặt hàng gia công, mua bán tại VN. Thứ hai, trong nước đã và đang hình thành một đội ngũ các chuyên viên thiết kế, các nhà thời trang được đào tạo bài bản hơn, thậm chí được đào tạo từ cái nôi của ngành thời trang nổi tiếng thế giới như Ý, Pháp…
Tuy nhiên, đội ngũ này lại đang đứng bên cạnh, thậm chí đứng ngoài ngành công nghiệp dệt may VN và gần như mạnh ai nấy làm. Những nhà thiết kế vẫn chưa có sự phối hợp cần thiết để thời trang thâm nhập vào ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm thời trang.
Chỉ cần có một cơ chế để hai nhân tố này kết hợp vào nhau thì trong 10 năm tới, ngành công nghiệp thời trang dệt may VN sẽ có chỗ đứng trên thị trường khu vực. Khi đó giá bán của sản phẩm dệt may VN sẽ không phải tính bằng công thức như hiện nay mà sẽ có công thức: Giá bán = giá thành sản phẩm công nghiệp + thương hiệu + giá trị của thiết kế + giá trị thời trang.
Giữ vững thị trường nội địa là một giải pháp mà khá nhiều DN dệt may VN đã thành công như Việt Tiến, An Phước, Nhà Bè… Sự thành công tại thị trường trong nước sẽ giúp DN nhanh chóng tạo nên giá trị gia tăng cao, sản xuất ổn định, có điều kiện đổi mới công nghệ để tăng tính cạnh tranh hàng xuất khẩu.
Theo tôi, việc chọn giải pháp nào phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của DN sẽ là vấn đề có tính sống còn mà bản thân từng DN cân nhắc. Sự phát triển của cả ngành có bền vững hay không là do sự nỗ lực từ cả ba phía: nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp.
Diệp Thành Kiệt (Phó Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TPHCM)
Việc ký các đơn hàng đầy ắp từ đầu năm đến nay đã khiến dệt may nhanh chóng xếp thứ 4 trong nhóm 6 mặt hàng xuất khẩu đã đạt kim ngạch trên 1 tỉ đô la Mỹ (ước đạt 3,04 tỉ đô la qua 4 tháng, tăng 18,9% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nghịch lý là ở chỗ, các doanh nghiệp xuất khẩu không vì thế mà hào hứng vì càng xuất khẩu được nhiều thì nguy cơ lỗ càng cao.
Xuất khẩu giày dép của Indonesia có thể đạt 3 tỷ USD mỗi năm trong vòng 3 năm tới do có nhiều nhà máy sản xuất nổi tiếng từ các quốc gia Đông Nam Á khác chuyển đến.
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Anh tháng 3/2010 đạt 115 triệu USD, giảm 0,3% so với tháng 2/2010 nhưng tăng 16,5% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Anh quý I/2010 đạt 351 triệu USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ, chiếm 2,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước quý I/2010.
Theo nguồn tin Reuters, nhập khẩu bông vào Trung Quốc trong năm 2010/11 sẽ đạt 3,2 triệu tấn, tăng 28% so với ước tính 2,5 triệu tấn của niên vụ trước.
Giá bông nhập khẩu (NK) tăng cao đang đẩy nhiều doanh nghiệp (DN) dệt may (DM) trong nước lâm vào tình thế khó khăn vì chi phí sản xuất đội lên. Từ đầu tháng 4, giá bông NK đã lên tới 1,9-1,92 USD/kg, tăng 35% so với đầu năm (tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2009).
Ngành dệt may phát triển dựa trên một chuỗi sản xuất liên hoàn từ sản xuất bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải rồi mới đến may mặc. Việt Nam (VN) mới làm tốt được khâu cuối cùng. Sản xuất bông, xơ trong nước chỉ mới đáp ứng được 2% nhu cầu dệt sợi.
Thực trạng của ngành dệt may trong những năm gần đây đã gây nhiều bức xúc cho những người trực tiếp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này. Chúng tôi xin giới thiệu một số ý kiến của người trong cuộc về những vấn đề trên.
Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu (XK) bình quân 30%/năm, năm 2008 hàng may mặc Việt Nam (VN) chính thức lọt vào top 10 nước XK dệt may hàng đầu thế giới. Cùng với đó, kim ngạch XK hàng dệt may đã từng bước vượt qua nhiều ngành hàng khác để trở thành quán quân trong các ngành hàng XK của VN. Tuy nhiên, sự tăng trưởng hàng tỷ USD mỗi năm cũng chỉ là con số “hữu danh vô thực” vì thực tế, xuất nhiều mà nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất cũng rất cao.
Quý I-2010, ngành dệt may (DM) đã vượt qua dầu thô, vươn lên đứng đầu trong nhóm hàng công nghiệp xuất khẩu (XK) chủ lực, với kim ngạch XK đạt khoảng 2,16 tỷ USD (tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái). Dù giá bán các sản phẩm này chưa trở lại thời kỳ đỉnh cao, nhưng đây là tín hiệu khả quan để ngành DM đạt kim ngạch XK 10,5 tỷ USD trong năm 2010.
Với mục tiêu đạt kim ngạch 10,5 tỷ USD, Bộ Công thương đã có đề án xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận, thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may đã cũ.
Rất hiếm có người nào có thể nhìn trước được tương lai, đặc biệt là trong kinh doanh. Thị trường vận động, thích ứng theo cách riêng của nó và những biến đổi đó không dễ để có thể dự đoán được. Tuy nhiên, trong những trường hợp hiếm hoi đó, chúng ta có cơ hội để nhìn trước được sự thay đổi trong ngành dệt may Việt Nam, một vận động không quá lớn nhưng thực tế đang diễn ra và mang đến những sự thay đổi tích cực và đáng kể.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.