Doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn, khi thực hiện đơn hàng FOB. Ảnh: Thu Nguyệt
Được dự báo trong 5 năm nữa doanh nghiệp gia công thuần tuý sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi giá lao động ngày càng tăng, nhưng phần lớn doanh nghiệp dệt may, da giày vẫn “trung thành” với gia công đơn thuần để giảm thiểu rủi ro, đặc biệt trong lúc kinh tế khó khăn như hiện nay.
Công ty TNHH may mặc xuất khẩu Tân Châu (thành viên của Tập đoàn dệt may Việt Nam), bấy lâu xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Mỹ và Nhật Bản, và mới làm hàng thể thao cho đối tác châu Âu trong năm nay. Công ty mới đây hoàn tất một đơn hàng nhỏ làm thử hình thức FOB (mua nguyên liệu và may gia công) cho một đối tác tại Tây Ban Nha. Dù làm FOB doanh nghiệp có lời hơn gia công thuần tuý (CMT), nhưng vì mới làm thử đơn hàng nhỏ nên chênh lệch về lợi nhuận giữa CMT và FOB chưa nhiều.
Chần chừ vì lắm rủi ro
Tuy nhiên, khi đối tác đề xuất Tân Châu thực hiện một đơn hàng FOB với quy mô lớn hơn nhiều cho năm tới, thì công ty lại chần chừ vì khách hàng cho biết không có thói quen đặt cọc trước.
Ông Phạm Tuấn Kiên, giám đốc của công ty Tân Châu, cho biết, nếu tình hình kinh tế châu Âu đang tốt thì không sao, nhưng hiện kinh tế không mấy sáng sủa nên công ty phải cân nhắc vì sợ rủi ro dù đối tác thanh toán bằng thư tín dụng (L/C).
Việc Tân Châu chần chừ có thể lý giải được, vì khi kinh tế đang khó khăn, thì không gì có thể nói trước, trong khi đó làm đơn hàng FOB, công ty chịu nhiều rủi ro hơn khi phải bỏ thêm chi phí mua vải và nguyên phụ liệu để may sản phẩm.
Hiện một số công ty như giày Liên Phát, hay công ty may Sài gòn 2 cũng cho biết chỉ thực hiện các đơn hàng gia công thuần tuý.
Bà Trương Thị Thúy Liên, giám đốc công ty giày Liên Phát, cho biết công ty đang làm gia công đơn thuần cho các thị trường, như châu Âu, Mỹ, Trung Đông qua công ty trung gian. Theo bà Liên, làm gia công đơn thuần, dù lợi nhuận không cao, nhưng an toàn về thanh toán hơn so với hình thức FOB.
Theo giám đốc điều hành của một công ty may A cũng có tiếng tại Việt Nam (xin được không nêu tên), thực hiện đơn hàng FOB đương nhiên lời cao hơn CMT vì làm FOB, doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian hơn, kỳ công hơn, chịu nhiều rủi ro hơn, phải có vốn lớn để mua vải và có người để phụ trách thêm nhiều khâu. Hiện công ty này mỗi năm đều đặt ra mục tiêu tăng tỉ lệ làm hàng FOB, nhưng hiện tỉ lệ làm hàng CMT vẫn chiếm đa số.
Theo bà Đặng Phương Dung, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), hiện cũng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam chuyển sang hình thức FOB, nhưng việc chuyển đổi này còn chậm và không như mong đợi.
Hiện nay, số doanh nghiệp gia công thuần tuý trong ngành da giày là 70%, trong ngành may mặc là 60%. Hai ngành này phụ thuộc chủ yếu vào nguyên vật liệu nhập khẩu (nhập khẩu 60-70% nguyên vật liệu).
Với đà tăng giá lao động như hiện nay, có khả năng trong 3-5 năm tới, doanh nghiệp sẽ khó tồn tại nếu làm gia công thuần tuý.
Ông Lê Quốc Ấn, Trưởng ban cố vấn VITAS
Có thể gặp khó với gia công thuần tuý
Với việc nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm phần lớn giá trị sản phẩm, cộng thêm chi phí lao động đang ngày càng tăng, trong khi lợi nhuận từ gia công lại ít ỏi, không ít doanh nghiệp đã thấy khó khăn.
Một doanh nghiệp giày gia công thuần tuý cho biết qua điện thoại, năm nay công ty không lời, nhưng vẫn phải chi thưởng cho công nhân. Ngoài ra, chi phí lo tàu xe về cho công nhân trong năm nay cũng tăng cao. Hiện mức chi trả có thể giữ được người lao động trong ngành may ở TPHCM trung bình khoảng 6 triệu đồng/tháng/người, bao gồm cả thưởng tết, chi phí bảo hiểm,…; ở những tỉnh thành khác thì khoảng 4 triệu. Mức lương trong ngành da giày thì thấp hơn.
Theo ông Lê Quốc Ân, Trưởng ban cố vấn VITAS, trong một hội thảo gần đây, giá lao động tại Việt Nam đang trên đà tăng và có thể sẽ lên đến 500 đô la Mỹ/tháng/người (khoảng 10 triệu đồng) (tính cả thưởng tết, bảo hiểm xã hội,…) tại các thành phố lớn như TPHCM và Hà Nội trong 3-5 năm tới.
Do đó, ông Ân cho rằng, với đà tăng giá lao động như trên, có khả năng trong 3-5 năm tới, doanh nghiệp sẽ khó tồn tại nếu làm gia công thuần tuý.
Theo đó, dù muốn hay không, theo xu thế, doanh nghiệp vẫn phải đẩy mạnh giá trị gia tăng cho hàng hoá, bằng cách giảm CMT, đẩy mạnh FOB, hướng đến những hình thức mang lại giá trị gia tăng cao hơn, như kết hợp làm thương hiệu, phân phối và marketing.
Trong hội thảo bên lề hội chợ thời trang diễn ra tại TPHCM vào cuối tháng 10-2011, ông Andrew Hong, tổng thư ký thường trực Liên đoàn dệt may Đông Nam Á, cho biết, trước năm 2005, khách hàng tìm đến doanh nghiệp và chỉ định nguồn cung ứng vải, nguyên phụ liệu, doanh nghiệp chỉ cắt và may, không dính dáng gì đến thiết kế, đo đạc và định giá. Nhưng, ngành may khu vực đang ở một tầng nấc là: có sự thay đổi trong tâm lý người bán và người mua, doanh nghiệp làm dịch vụ trọn gói, tức sản xuất vải, thiết kế, nghiên cứu và cắt may.
Bà Jessie Zhang, giám đốc phụ trách khách hàng quốc tế tại công ty Magic International Inc. (đơn vị tổ chức hội chợ may mặc Magic Show tại Mỹ), cũng cho biết, để tạo lợi thế cạnh tranh đối với khách hàng Mỹ thì doanh nghiệp nên cung ứng được dịch vụ trọn gói, hoặc phải có sẵn danh sách các nhà cung ứng thứ cấp/nhà thầu phụ (vải, may, hoàn tất…). Thông thường, khách mua hàng không muốn làm việc trực tiếp với các nhà cung ứng thứ cấp/nhà thầu phụ vì họ muốn hạn chế bớt những phức tạp không đáng có trong quy trình sản xuất.
Từ đầu năm đến nay có nhiều đoàn doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam để tìm hiểu cơ hội đầu tư vào ngành dệt, nhuộm, theo đại diện của Hiệp hội Dệt May Việt Nam tại TPHCM.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Theo Bộ Công Thương, XK dệt may vào các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Châu Âu... thời gian tới sẽ gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu.
Hàng loạt doanh nghiệp sản xuất trong các lĩnh vực như: dệt may, da giày, túi xách... liên tục nhận được đơn đặt hàng xuất khẩu với số lượng ngày càng gia tăng.
Bộ Công Thương vừa đưa ra dự báo xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong năm 2011 có thể đạt 13,5 tỷ USD, tiếp tục tăng 20,5% so với năm trước và cao hơn mục tiêu đề ngành ra hồi đầu năm là 0,5 tỷ USD.
Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu giày dép 7 tháng đầu năm ước đạt 3,6 tỉ USD, tăng 30,7% so với cùng kỳ. Đặc biệt, các doanh nghiệp trong ngành đã tạo lập được uy tín nên nhiều thương hiệu giày dép lớn tại EU và Mỹ đã tới và đang tìm hiểu để đặt hàng tại Việt Nam.
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết thống kê mới nhất ghi nhận ngành dệt may Việt Nam ước xuất siêu khoảng 2,1 tỉ USD trong sáu tháng đầu năm 2011, mức cao nhất từ trước đến nay.
Mặc dù, trong 6 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đã đạt gần 3 tỷ USD, nhưng theo đánh giá của Hiệp hội Da - Giày Việt Nam (Lefaso), xuất khẩu mặt hàng này vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.