Sau khi các cơ quan chức năng vào cuộc, nạn “chè bẩn” (trộn các tạp chất như tinh bột hồ hóa, bùn đất… vào chế biến chè) ở nhiều cơ sở chè quy mô nhỏ tại một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc đã được dẹp bỏ. Tuy nhiên, nhiều lo ngại về cây chè vẫn đang khiến các DN đau đầu. DĐDN có cuộc trao đổi cùng ông Đoàn Anh Tuân - Chủ tịch Hiệp hội Chè xung quanh vấn đề này.
Ông Tuân cho biết, do các địa phương đã vào cuộc quyết liệt nên đến bây giờ cơ bản tình trạng làm “chè bẩn” đã chấm dứt, bà con cũng hiểu việc làm đó chỉ là cái lợi nhỏ trước mắt nhưng sẽ ảnh hưởng đến lâu dài. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta yên tâm vì chè mà đại đa số người dân đang uống cũng chưa sạch.
- Ông có thể nói rõ hơn về điều này?
Hiện tại đang có hai phương pháp sản xuất, một là các nhà máy chế biến, hai là các hộ nông dân tự sản xuất. Đại đa số chúng ta đang dùng chè là do các hộ nông dân chế biến bằng phương pháp thủ công rồi đem đi tiêu thụ. Sản phẩm của họ không có nguồn gốc, xuất xứ, hạn dùng và dĩ nhiên không có kiểm định.
Nếu anh đến Thái nguyên, chủ nhà mời chè, anh thử hỏi chè này có phun thuốc sâu không? Tôi tin anh sẽ nhận được câu trả lời: Chè này trồng riêng chỉ để gia đình uống!
- Nhưng chúng ta không thể cấm các hộ dân bán chè như vậy, thưa ông ?
Tôi đã đi mấy chục nước trên thế giới, không ở đâu người dân được tự do sản xuất và tiêu thụ chè như ở VN. Với những “lạng” chè không nhãn mác, xuất xứ... bán tràn lan trên thị trường, ai có thể biết dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có vượt mức cho phép không, hàm lượng tạp chất thế nào. Rồi họ sản xuất có đảm bảo vệ sinh không, chả ai quan tâm. Đã đến lúc chúng ta buộc các hộ sản xuất vào một tổ chức, hoặc HTX để sản phẩm chè của họ có thương hiệu và chịu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan chức năng thì mới hy vọng bớt đi phần nào chè chưa sạch này.
- Vậy tại đợt “chè bẩn” vừa qua, không có thành viên nào của Hiệp hội vi phạm?
Những người làm “chè bẩn” vừa qua được phát hiện lại không phải là hội viên Hiệp hội Chè. Trong hội viên Hiệp hội Chè hiện chỉ có 1 DN là thành viên mới tham gia Hiệp hội mấy tháng là Cty Hữu Hảo của Yên Bái có tham gia để tiêu thụ chè đó cho tư nhân Trung Quốc. Còn lại, hoạt động này chủ yếu xảy ra tại các hộ nông dân riêng lẻ.
- Có ý kiến cho rằng cơn lốc “chè bẩn” vừa qua là do giá chè tươi các DN của ta thấp nên bà con mới tìm cách “tận thu” bán cho các tư thương xuất sang bên Trung Quốc?
Tôi khẳng định ngay, giá chè tươi của ta hiện nay không thấp. Trừ Thái Nguyên giá khoảng 20.000 đồng/kg, còn lại các vùng khác giá thu mua khoảng 3.500- 5.000 đồng/kg. Giá xuất khẩu của ta bình quân khoảng 1 USD/ kg chè khô, so với Ấn Độ là 1,5 USD nhưng chất lượng chè của họ tốt hơn của ta rất nhiều. Điều này để nói là giá DN thu mua chè nguyên liệu của các DN đã tiệm cận giá thế giới. Chính vì vậy, DN rất khó khăn, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như thời gian qua. Nhưng nhiều người lại cứ nghĩ DN chè lãi nhiều.
Tôi đảm bảo trong năm nay, nhiều DN chè phá sản, không thể có lãi. Như vậy, không ai có lợi.
- Như ông nói, nếu không có lợi, thì tại sao DN lại lao vào đầu tư chè?
Hiện chúng ta có tới hơn 600 Cty sản xuất chè. Công suất các nhà máy gấp 3 lần vùng nguyên liệu. Công bằng mà nói mấy năm trước đầu tư vào chè cũng kiếm được nên ai cũng nhao vào, giờ thì có chạy cũng không được.
- Điều đó có nghĩa tình trạng tranh mua nguyên liệu sẽ còn tiếp tục khốc liệt và sẽ có nhiều nhà máy phải đóng cửa vì thiếu nguyên liệu?
Hiện tại diện tích chè mà các hộ nông dân trồng khoảng 80.000 ha, chỉ có 20.000 ha do các DN đầu tư. Việc tranh mua nguyên liệu là không tránh khỏi và tôi cũng nói luôn chỉ trong thời gian ngắn thôi sẽ có hàng loạt DN chè phá sản.
- Với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội Chè, ông đã “nhìn thấy” điều này lâu chưa?
Tôi nhận biết từ lâu rồi, góp ý nhiều rồi nhưng không thể “ngăn” họ đầu tư được.
- Theo ông, vấn đề là vai trò quản lý nhà nước ở đây như thế nào?
Về nguyên tắc thì Nhà nước phải điều tiết nhưng vai trò điều tiết thể hiện bằng chính sách. Để xảy ra tranh mua tranh bán, thứ nhất là quan hệ giữa nông dân và nhà máy rất lỏng lẻo, cả 2 không gắn bó và tin tưởng lẫn nhau. Khi khó khăn, nhiều DN ép giá nông dân. Và ngược lại, khi có điều kiện nông dân ép lại DN, hái kém, không mua thì bán cho người khác. Buộc các DN phải đua nhau. Nhiều DN cho đến thời điểm này càng sản xuất càng lỗ nhưng vẫn phải mua. Bảo lỗi của dân hay DN thì cả hai.
- Vậy tại sao DN không đầu tư cho nông dân như nhiều ngành khác?
Rất nhiều người trách tại sao DN không đầu tư cho nông dân, quan tâm, hướng dẫn kỹ thuật để tạo sự gắn bó với nông dân, nếu ở vị trí DN thì mới hiểu.
Hiện nay Nhà nước khuyến khích rất nhiều DN đầu tư vào các địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho lao động địa phương, nhưng trên một địa bàn lượng nhà máy lại vượt quá khả năng cung ứng những 3 lần thì không DN nào muốn đầu tư. Vì có đầu tư thì “người” khác nẫng mất. Vì vậy, DN không đầu tư mà chỉ nâng chút giá lên, người nông dân có lợi chút là họ bán ngay.
Sản xuất chè bẩn sẽ khó tái diễn, đặc biệt sau Công văn ngày 6/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý chất lượng, ATTP đối với sản phẩm chè
Ví dụ, riêng huyện Văn Chấn - Yên Bái, 10 năm trước chỉ có một nhà máy chè, giờ có tới 60 nhà máy, nguyên liệu ở đâu cho đủ được? Nhưng địa phương vẫn được cấp phép bởi càng có nhiều nhà máy, địa phương sẽ thu được thuế, bà con sẽ có lựa chọn nơi nào mua giá cao thì bán.
Đây cũng là hậu quả của thời gian trước, Nhà nước cho vay vốn dễ dãi, DN cũng từng có lãi... nên mới dẫn đến khó khăn như thế này.
- Vậy nên giải quyết vấn đề này như thế nào?
Để ngành chè phát triển lành mạnh, cần rất nhiều biện pháp. Trong đó, quan trọng nhất là quy hoạch vùng nguyên liệu, quản lý sản xuất chất lượng cao, giúp đỡ DN hợp tác, hội nhập, hỗ trợ DN lúc “trái nắng dở trời”...
- Vậy Công văn ngày 6/9 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý chất lượng, ATTP đối với sản phẩm chè ra đời trong hoàn cảnh này giúp gì cho ngành chè ?
Văn bản này có thể coi là con đường sống giúp các DN chè hiện nay. Nếu Bộ NN&PTNT thực hiện được đúng như yêu cầu của nội dung công văn thì tương lai của ngành chè sẽ phát triển bền vững.
- Với riêng DNNVV sản xuất chè đang khó khăn, thậm chí sắp tới sẽ phá sản như ông vừa nói?
Cơ sự này chắc chắn nhiều DN bị đào thải, buộc các DN phải tìm cách cho riêng mình, như chuyển dần từ sản xuất thô sang tinh, quan tâm đến thương hiệu.
- Vậy, theo ông ngoài số DN có nguy cơ phá sản, có bao nhiêu DN là “vững” trong hoàn cảnh hiện nay?
Thực tế, ngành chè có 2 loại DN: DN đầu tư vào vùng nguyên liệu, đây là những DN phát triển rất ổn (khoảng 20 DN), chủ yếu DN cổ phần. Còn lại thì những DN không có vùng nguyên liệu, bấp bênh
- Quy hoạch chè đến năm 2020 sẽ như thế nào?
Sẽ nâng cao chất lượng chứ không tăng số lượng. Sẽ rất khó khăn đấy. Để có bức tranh “xanh tươi”, nhiều DN sẽ phải “trả giá”, dù đau xót nhưng nếu cứ thế này mãi thì chả bao giờ ngành chè VN vươn xa được.
Lịch thời vụ thu hoạch cà phê hàng năm ở Việt Nam thường từ đầu tháng 10, nhưng tin mới nhất từ Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) cho biết vụ thu hoạch 2011/2012 sẽ chỉ có thể bắt đầu từ cuối tháng 11 và sản lượng có thể bị ảnh hưởng bởi mưa bão nhiều vào cuối năm nay. Thông tin về việc nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới thu hoạch muộn có thể gây áp lực tăng lên giá cà phê.
Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên, hiện nay, do giá càphê, hồ tiêu tăng cao nên nhiều hộ dân ở các tỉnh Tây Nguyên đã ồ ạt mở rộng diện tích trồng càphê, hồ tiêu không theo quy hoạch, kế hoạch.
“Sau lúa gạo, café, cacao sẽ là niềm tự hào mới của ngành nông nghiệp VN” - ông Trần Văn Liêng - Tổng giám đốc Cty CP ca cao VN (Vinacacao) nhận định.
Dù lãnh đạo Bộ NN-PTNT, các địa phương, DN cũng như các nhà khoa học đều có chung kết luận là VN rất có tiềm năng phát triển cây ca cao, tuy nhiên, tốc độ phát triển của loại cây này tại VN quá chậm, chưa xứng tầm.
Ai cũng biết trà là một loại thảo dược có nhiều tính năng rất tốt cho sức khỏe. Với thành phần catechin, trà có tác dụng giảm nguy cơ gây ung thư, giảm kích thước khối u, tác dụng chống phóng xạ, giảm lượng đường trong máu, giảm choletsterol, diệt khuẩn, giảm mệt mỏi...
Một Công ty ở Quảng Đông (Trung Quốc) đã được bảo hộ độc quyền 2 nhãn hiệu "Buon Ma Thuot Coffee, 1896 và hình" và "Buon Ma Thuot và 3 chữ Trung Quốc" trên lãnh thổ nước này trong vòng 10 năm.
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN với kim ngạch năm nay dự kiến đạt 2,6 tỉ USD. Tuy nhiên, nghịch lý là lợi nhuận từ ngành hàng này đang nằm ở các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi doanh nghiệp VN thua lỗ nặng.
Hiện các hợp đồng mua điều thô nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến điều xuất khẩu đến tháng 10 là hết hàng, vì thế, trong 3 tháng tới có khả năng nhiều doanh nghiệp chế biến điều sẽ "ngồi chơi xơi nước" vì thiếu nguyên liệu.
Bản tin cập nhật dự báo thị trường một số nông sản tháng 8/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa điều chỉnh giảm hàng loạt các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Không phải ngẫu nhiên mà năng suất càphê ở Việt Nam luôn cao nhất thế giới và gấp 3 lần mức bình quân thế giới. Hiện tại năng suất bình quân của thế giới là 7 tạ nhân/ha, còn tại Việt Nam lên tới 2 tấn/ha.
Theo Wall Street Journal, người khổng lồ trong ngành thực phẩm và đồ uống của Thụy Sĩ, Nestle vừa công bố khoản đầu tư 270 triệu USD để xây dựng nhà máy chế biến càphê tại Việt Nam.
Ngày 9/8, ông Nguyễn Thọ Lai, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tuyên Quang cho biết đến nay, việc sản xuất “chè bẩn” trên địa bàn tỉnh đã hoàn toàn chấm dứt.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.