Gần 1.000 doanh nghiệp tham gia ở 20 ngành hàng, song công nghiệp phụ trợ Hà Nội vẫn được đánh giá là ở trình độ thấp so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực trong khu vực.
Trên thực tế, nguyên nhân của những bất cập trên đã được đưa ra mổ xẻ tại rất nhiều hội nghị, hội thảo từ nhiều năm trước. Từ câu chuyện về vốn, nhân lực, công nghệ đến cơ chế chính sách của nhà nước đối với lĩnh vực này chưa được thỏa đáng...
Tuy nhiên, trên cương vị Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Chính lại cho rằng, sự “ì ạch” của công nghiệp phụ trợ Hà Nội được bắt nguồn từ một nguyên nhân khá tế nhị, đó là do “ta - bạn” vẫn chưa tin nhau.
Trao đổi với PV về thực tế trên, ông Chính nói:
- Hiện nay, công nghiệp Hà Nội nói chung về giá trị sản lượng và quy mô đang đứng vào top 5 của cả nước. Trong đó có những sản phẩm và doanh nghiệp tương đối lớn. Đặc biệt, Hà Nội có nhiều khu công nghiệp của các hãng lớn trên thế giới như Canon, Yamaha, Panasonic... với khoảng 1 triệu lao động đang làm việc và đã có những đóng góp nhất định cho kinh tế Thủ đô trong nhiều năm qua.
Một trong những mục tiêu mà công nghiệp Hà Nội đang hướng tới là phải phát triển công nghiệp hỗ trợ. Bởi lẽ, phần lớn sản phẩm chi tiết của các hãng nổi tiếng trên lại có nguồn gốc nhập khẩu. Chính điều này đã khiến cho giá trị gia tăng của ngành công nghiệp Thủ đô không như kỳ vọng.
Vậy tại sao công nghiệp phụ trợ của Thủ đô vẫn “ì ạch” trong khi công nghiệp nói chung lại thuộc Top 5 cả nước và Hà Nội lại được hưởng rất nhiều cơ chế đặc thù, thưa ông?
Nguyên nhân là do công nghiệp gốc là cơ khí chế tạo của Hà Nội vẫn còn ở trình độ thấp, cùng với cơ chế chính sách, các cơ sở sản xuất linh kiện vẫn còn chưa phát triển. Chỉ gần đây, khi Chính phủ có quy hoạch về công nghiệp phụ trợ thì các bộ, ngành, địa phương mới vào cuộc quyết liệt hơn.
Cách đây chưa lâu, rất nhiều ban ngành Trung ương đã cùng ký bản hợp tác nhằm xây dựng phát triển Khu công nghiệp Nam Hà Nội chuyên phục vụ cho các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ.
Nhưng phía các doanh nghiệp FDI lại “than” rằng, ì ạch trên là do doanh nghiệp của Hà Nội thiếu chủ động trong hợp tác với họ?
Thực ra việc này là do cả hai phía. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cũng đã có một thời gian tỏ ra tự ti trong việc đi sâu sản xuất các chi tiết máy. Thậm chí nhiều doanh nghiệp sản xuất ra còn lo không biết bán cho ai.
Trong khi đó, về phía doanh nghiệp FDI lại lo chất lượng các sản phẩm của chúng ta chưa đảm bảo. Do vậy mà nhiều đơn hàng của công ty mẹ vẫn được chuyển sang.
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng có nhiều điều tế nhị. Thực tế là do hai bên chưa phải là đã tin nhau. Về phía chúng ta, nếu nhìn vào cái gốc là công nghệ của các doanh nghiệp, khi họ đưa công nghệ vào thì chưa hẳn đó là công nghệ tốt nhất. Cụ thể là doanh nghiệp Hà Nội và doanh nghiệp FDI không tin nhau ở điểm nào?
Chủ yếu vẫn là xoay quanh vấn đề giá cả và chất lượng. Chúng ta quan tâm hợp đồng bán hàng cho họ có được lâu dài hay không. Đặc biệt, khi cuộc khủng hoảng kinh tế năm ngoái nổ ra, có rất nhiều hợp đồng trọn gói với các “ông lớn” đều bị hủy bỏ. Nó kéo theo các doanh nghiệp bán sản phẩm cũng chết theo.
Còn phía bạn thì vì sao lại “ngán” doanh nghiệp Thủ đô, thưa ông?
Trước hết đó là tiến độ giao hàng, chất lượng không đồng đều. Những điều này có thể xuất phát từ thói quen, kỷ luật lao động và một phần là từ công nghệ, thậm chí nhiều nơi còn quá phụ thuộc vào con người. Các hãng lớn họ yêu cầu hàng triệu sản phẩm chất lượng phải đồng đều nhau. Có thể thời gian đầu họ bỏ qua, nhưng sau đó thị trường sẽ sàng lọc. Với tư cách là Trưởng ban quản lý, ông lý giải thế nào khi có nhiều doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ không thể chen chân được vào các khu công nghiệp của Hà Nội?
Thực ra, chuyện này chỉ vướng mắc mỗi yếu tố duy nhất là giá thuê đất. Giá thuê đất Hà Nội thường gấp hai, ba lần các địa phương khác. Trong khi các doanh nghiệp phụ trợ lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn vốn của họ không nhiều lắm.
Sắp tới chúng tôi sẽ xây dựng hẳn một khu công nghiệp với các cơ chế thích hợp nhất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có thể cho họ thuê nhà xưởng trong một thời gian ngắn chứ không nhất thiết bắt họ thuê hàng chục năm.
Cũng có nhiều nguyên nhân cho rằng, công nghiệp Hà Nội nói chung ì ạch là do câu chuyện “con gà quả trứng”, tức là các nhà đầu tư vẫn trông chờ hạ tầng, trong khi doanh nghiệp đầu tư hạ tầng thì lại cho rằng phải có nhà đầu tư thì mới bỏ vốn?
Thực tế thì cũng không hẳn như thế. Bởi trong vòng 2 năm nay Hà Nội gần như không còn đất để phát triển khu công nghiệp. Hơn nữa, sau khi mở rộng Hà Nội thì chúng tôi còn phải rà soát lại.
Hiện có 9 khu công nghiệp đang triển khai dở dang phải dừng hết lại vì không có đất. Trong khi đó, có không ít doanh nghiệp hạ tầng thì lại tìm cách giữ chân các nhà đầu tư.
Tất cả những bất cập này phải chờ Thủ tướng ký phê duyệt quy hoạch chung các khu công nghiệp, khi đó tất cả mới có thể hoàn thiện hạ tầng. Hiện chỉ duy nhất có Khu công nghiệp Nam Hà Nội là không phải chờ quy hoạch mà được triển khai ngay.
Liệu công nghiệp phụ trợ Hà Nội có thể tạo được sức bật mới khi mà các khu công nghiệp, phát triển công nghiệp phụ trợ lại không nằm trong danh mục được hỗ trợ tín dụng Chính phủ?
Đúng là quy định này cũng đã khiến nhiều doanh nghiệp bức xúc. Hiện chúng tôi đang tìm cách đề xuất Chính phủ thông qua từng bước.
Còn với quyền hạn của mình, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp về hạ tầng, nhà xưởng với nhiều cơ chế linh động. Chúng tôi cũng sẽ từng bước có đề xuất với Chính phủ để có những chính sách tài chính thiết thực hơn.
Tuy nhiên, đối với phát triển công nghiệp hiện nay, vốn không phải là yếu tố quyết định. Chính thị trường, công nghệ mới là quyết định. Đối với những nhà công nghiệp có niềm tin và kinh nghiệm thì họ tin vào khả năng của mình để từ đó tìm được thị trường.
Niên vụ 2009-2010, cả nước có 40 nhà máy đường hoạt động với lượng mía ép đạt 9,74 triệu tấn, lượng đường sản xuất đạt 904 nghìn tấn, tỉ lệ phát huy công suất bình quân chỉ đạt 61,5%.
Tổng Lãnh sự Thái Lan tại Thành phố Hồ Chí Minh Somchai Powcharoen cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thái Lan nên đầu tư vào ngành công nghiệp in ấn của Việt Nam, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Công nghiệp hỗ trợ là ngành tạo ra sức hút đối với các công ty đa quốc gia (TNC). Đối với Việt Nam, đây chính là nền tảng để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Xu hướng tất yếu của sản xuất trong một nền kinh tế thị trường là luôn diễn ra quá trình chuyên môn hóa, chuyên biệt hóa sản phẩm và dịch vụ để không ngừng nâng cao năng suất, tạo nhiều giá trị gia tăng, giảm giá thành nhằm tồn tại và phát triển trong cạnh tranh khốc liệt.
Giám đốc Canon VN đã từng bộc bạch khi hãng này thâm nhập thị trường VN từ năm 2001 với 7 công ty Việt đối tác, đến nay đã có mối quan hệ làm ăn với khoảng 100 doanh nghiệp VN.
Ngày 16-7, tại thị xã Gia Nghĩa (Ðác Nông), Bộ Công thương tổ chức Hội nghị giao ban ngành công thương các tỉnh, thành phố ven biển miền trung - Tây Nguyên sáu tháng đầu năm 2010. Tham dự hội nghị có lãnh đạo sở công thương của 14 tỉnh, thành phố miền trung và Tây Nguyên.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, những tháng đầu năm nay, giá trị sản xuất công nghiệp của 14 tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ tuy đạt tốc độ tăng trưởng khá (33,4%)...
Theo đánh giá của ngành chức năng, nước ta đang phải đối mặt với tình trạng nhập siêu, trong đó có nhiều mặt hàng nhập khẩu (NK) lớn gồm thiết bị, máy tính, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt, may, da, ô tô... Điều này cho thấy, nhiều ngành công nghiệp, trong đó có ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu (XK) vẫn chủ yếu dựa vào nguyên liệu, linh kiện NK.
Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ lại được nhắc đến như một trong những chìa khoá cho phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bản thân ngành này lại vẫn đang trong vòng luẩn quẩn.
Sau một thời gian xây dựng, tạo dấu ấn hàng Việt, những thương hiệu thời trang như: Foci, Việt Thy, Sea, Sanding, May Sài Gòn 2… gần đây buộc phải thu hẹp qui mô, hoạt động cầm chừng vì không tìm được đầu ra cho sản phẩm. Ngay cả những doanh nghiệp dệt may đã sớm chủ động quay trở lại khai thác thị trường trong nước lúc này cũng đuối sức vì bài toán đầu ra.
Thiếu vốn và “đói” nguyên liệu cùng với các chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường XK bị thu hẹp là những trở ngại mà DN thủy sản đang vướng phải trong thời điểm vốn đang chồng chất khó khăn này.
Sáng 16-5, tại TP Cần Thơ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cùng đại diện 40 doanh nghiệp tọa đàm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
Tuy đứng vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nhưng các doanh nghiệp Việt Nam luôn bị nhà nhập khẩu chi phối ở khâu soạn thảo hợp đồng mua bán. Nắm bắt được tâm lý ngại tranh chấp pháp lý, một số nhà nhập khẩu đã cố tình tạo sự cố trong hợp đồng để gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Theo đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) mới được Bộ trưởng Đinh La Thăng phê duyệt, từ năm 2012-2020 sẽ đầu tư đội tàu biển với tổng kinh phí lên đến 100.000 tỉ đồng.
Sau chín năm xây dựng và phát triển, hiện cả nước có 18 khu kinh tế ven biển, trong đó 15 khu đã và đang xây dựng, ba khu khác chuẩn bị triển khai, chiếm tổng cộng hơn 730 ngàn hécta mặt đất, mặt nước. Tuy nhiên, sau chín năm, các khu kinh tế ven biển phát triển quá chậm so với lợi thế, tiềm năng sẵn có, tỷ lệ dự án lấp đầy chỉ đạt dưới 10%! Bài viết này thử đi tìm những nguyên nhân của thực trạng đó.
Trước sức ép hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhiều nhà sản xuất ôtô Việt Nam có cái nhìn khá bi quan về thị trường. Song vẫn có doanh nghiệp kiên trì đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu càphê, với 1,1 triệu tấn, trị giá 2,4 tỉ USD, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 2% doanh số của cả ngành công nghiệp càphê thế giới. Ông Nguyễn Nguyên, trợ lý tổng giám đốc Trung Nguyên, chia sẻ mong muốn nâng giá trị ngành cà phê.
Vật liệu xây không nung (VLXKN) mặc dù được xem là vật liệu xanh, thân thiên môi trường và được khuyến khích sử dụng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay theo nhiều chuyên gia do chúng ta thiếu một cơ chế, chính sách đồng bộ nên các DN sản xuất loại vật liệu này đang rất khó khăn trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường.
Mặc dù ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho sức mua tại hầu hết các thị trường lớn của ngành dệt may như Mỹ, EU, Nhật... sụt giảm nghiêm trọng, nhưng ngành dệt may VN đã nỗ lực cạnh tranh với các nước XK để giành lấy phần thị trường đang bị co hẹp, đồng thời đẩy mạnh việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN đã có cuộc trao đổi với báo giới xung quanh nội dung này.
"Năm 2010, chúng tôi sẽ cố gắng phấn đấu tăng trưởng giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD", Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, nói với VnEconomy ngày hôm qua.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) phải đạt 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế để đạt được chỉ tiêu này, nhất là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay thì thời gian tới cần có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hòa và tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển ngành hàng này. Trong đó, các DN rất cần sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ thông qua các chương trình bảo tồn làng nghề, khuyến công và xây dựng hạ tầng cơ sở.
Xác định rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô trong quá trình phát triển của đất nước, từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã đưa ra nhiều khuyến khích nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào ngành công nghiệp này. Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”. Tuy nhiên, sau gần 5 năm triển khai thực hiện, nhiều chỉ tiêu của quy hoạch đã không thực hiện được hoặc hầu như chắc chắn không thực hiện được, nhất là những chỉ tiêu đến năm 2010. Những chỉ tiêu đến năm 2020 cũng rất khó có thể thực hiện được. Để làm rõ vấn đề này cần phải tính các nguyên nhân, thực trạng phát triển và đưa ra các giải pháp để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu phát triển của ngành ô tô ở Việt Nam.
Trong 3 tháng qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng (VLXD) đã tăng liên tục. Giới kinh doanh dự báo, khả năng giá nhiều loại VLXD còn tăng. Thông tin này đã làm cho nhiều người có kế hoạch xây dựng nhà phải tính toán lại...
Việc chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới của các tập đoàn như Samsung, Canon, Intel... là tín hiệu cho thấy cơ hội để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam đã đến.
Cách tạo dựng công nghiệp ô tô dựa quá nặng vào các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến ngành ô tô của VN phát triển khá ì ạch, tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp VN khi tham gia lĩnh vực này. Tinkinhte xin đăng lại bài viết của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan trên SGGP về vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước nói chung và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế (KKT) miền trung nói riêng. Nhiều nhà đầu tư đã xin giãn tiến độ triển khai dự án. Các KKT miền trung cần điều chỉnh, lựa chọn những dự án và giải pháp hợp lý để thu hút đầu tư, phát triển mô hình KKT một cách có hiệu quả.
Được đánh giá là một ngành hàng mà Việt Nam có nhiều thế mạnh, nhưng ngành gốm sứ Việt Nam đang có sự phân cực rất rõ. Những đơn vị sản xuất công nghiệp - đa phần là gốm sứ xây dựng - đã và đang phát triển mạnh mẽ, trong khi dòng gốm thủ công mỹ nghệ đang gặp khó khăn rất lớn.
Tăng trưởng của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) là 38,3%; của Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) là 28,3% và của toàn ngành nói chung là 11,8% trong năm 2008 đã cho thấy sức hấp dẫn của những ngành hàng này, đặc biệt khi mà nhiều ngành hàng khác đang phải vật lộn để có đơn hàng.
Theo ASX Alphaliner, đội tàu của 100 hãng tàu vận tải hàng đầu trên thế giới hiện gồm khoảng 6,000 tàu đang hoạt động, trong đó có khoảng 5,000 tàu là các tàu container.